• Thứ sáu, 28 Tháng 7 năm 2017
  • Thứ sáu, 28 Tháng 7 năm 2017

TẠP CHÍ ĐỊA CHẤT SỐ 360, 10/2016

SỐ ĐẶC BIỆT KỶ NIỆM 25 NĂM THÀNH LẬP VÀ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG BIỂN (1991-2016).

Bài 1: TRUNG TÂM ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG BIỂN 25 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

TRỊNH NGUYÊN TÍNH, ĐỖ TỬ CHUNG, LÊ ANH THẮNG,
LÊ VĂN HỌC, NGUYỄN VĂN NGỌC, VĂN ĐỨC NAM

Trung tâm Điều tra tài nguyên môi trường biển, 125 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội

Bài 2: LỊCH SỬ TIẾN HÓA TRẦM TÍCH THỀM LỤC ĐỊA NAM TRUNG BỘ TRONG PLIOCEN - ĐỆ TỨ

ĐINH XUÂN THÀNH, TRẦN NGHI, TRẦN THỊ DUNG

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Trầm tích Pliocen - Đệ tứ thềm lục địa Nam Trung Bộ tiến hóa theo 8 giai đoạn: Pliocen sớm (N21), Pliocen giữa (N22), Pliocen muộn (N23), Pleistocen sớm (Q­11), Pleistocen giữa phần sớm (Q12a), Pleistocen giữa phần muộn (Q12b), Pleistocen muộn phần sớm (Q13a) và Pleistocen muộn phần muộn-Holcoen (Q13b-Q2), tạo nên 8 chu kỳ trầm tích. Bắt đầu mỗi chu kỳ là trầm tích hạt thô, môi trường lục địa thuộc miền hệ thống biển hạ/biển thấp hình thành trong giai đoạn mực nước biển hạ. Kết thúc chu kỳ là trầm tích hạt mịn, môi trường biển thuộc miền hệ thống biển tiến/biển cao hình thành trong giai đoạn mực nước biển dâng. Trầm tích có kích thước hạt mịn dần từ dưới lên trong mỗi chu kỳ và có xu hướng giảm dần từ chu kỳ 4 đến chu kỳ 8. Thềm lục địa hiện đại được xây dựng chủ yếu bằng khối lượng trầm tích lục nguyên khổng lồ thuộc môi trường châu thổ ngập nước hình thành trong các giai đoạn biển thoái do ảnh hưởng của băng hà trong Pliocen - Đệ tứ và nâng kiến tạo ở phần lục địa đến thềm trong, sụt lún ở thềm ngoài.

Bài 3: TAI BIẾN ĐỊA HÓA VÙNG BIỂN VIỆT NAM: HIỆN TRẠNG, XU THẾ VÀ CÁC GIẢI PHÁP GIẢM NHẸ

¹TRẦN ĐĂNG QUY, ¹NGUYỄN TÀI TUỆ, ¹LƯƠNG LÊ HUY, ²TRỊNH NGUYÊN TÍNH,
²LÊ ANH THẮNG, ²ĐÀO MẠNH TIẾN, ³VŨ TRƯỜNG SƠN, ¹MAI TRỌNG NHUẬN

¹Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội;
²Trung tâm Điều tra tài nguyên - môi trường biển; ³Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Tóm tắt: Bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái biển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam. Các tai biến địa hóa trong vùng biển Việt Nam có thể chia làm bốn loại là sự tăng cao hàm lượng dầu, kim loại nặng, các chất hữu cơ khó phân hủy (POPs) trong môi trường biển và nhiễm mặn ở vùng ven biển. Dầu đặc biệt cao tại các khu vực trọng điểm như vịnh Hạ Long, cửa Lục, Vũng Tàu, Phú Quốc và đã vượt quy chuẩn kĩ thuật quốc gia của Việt Nam. Các kim loại nặng có xu thế tập trung cao trong môi trường biển ở khu vực gần bờ, đặc biệt là trước các cửa sông lớn, các đầm phá ven biển và các vũng vịnh. Các chất POPs có mặt với hàm lượng cao trong trầm tích ven bờ ở miền Bắc, trong các đầm phá ven biển miền Trung và vùng biển trước các cửa sông Mê Kông. Tai biến nhiễm mặn nước mặt xảy ra chủ yếu ở các cửa sông vào mùa khô do sự suy giảm lưu lượng của các sông, đặc biệt nghiêm trọng đối với các cửa sông vùng duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Nhiễm mặn nước ngầm xảy ra tại vùng ven biển Nam Trung Bộ dẫn đến quá trình muối hóa thổ nhưỡng. Nhiễm mặn đất canh tác còn xảy ra do nước biển dâng cao trong bão tràn vào ruộng đồng. Quy mô phân bố, cường độ và xu thế của các tai biến địa hóa này ngày càng tăng do tăng cường các hoạt động nhân sinh trên đất liền, khai thác tài nguyên, khoáng sản và hoạt động hàng hải trên biển. Để giảm nhẹ ô nhiễm môi trường biển cần xây dựng và thực hiện các chương trình giám sát, quản lý môi trường cả trên đất liền và trên biển.

Bài 4: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊA HÓA KHÍ TRONG VIỆC TÌM KIẾM KHÍ HYDRATE Ở VIỆT NAM

PHẠM THỊ NGA, NGUYỄN DUY DUYẾN, TRÌNH VĂN THƯ

 Trung tâm Điều tra tài nguyên - môi trường biển, 125 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Địa hóa khí là một trong những phương pháp tiên tiến, hiệu quả nhất trên thế giới hiện nay và đang được áp dụng trong việc phát hiện, tìm kiếm và đánh giá nguồn tài nguyên khí hydrate. Cơ sở của phương pháp là sự di chuyển các phân tử khí trong các tích tụ chứa khí hydrate ra môi trường bên ngoài và sự tương tác hóa-lý của chúng với môi trường xung quanh, sự suy giảm nồng độ khí và tạo nên các dị thường nồng độ Cl-, SO42-,… Vùng nghiên cứu đã thể hiện sự biến đổi của các khí, các ion nói trên giúp xác định được vị trí các khu vực hình thành khí hydrate trong trầm tích ở dưới sâu. Dựa trên các kết quả xử lý, phân tích mẫu của 140 trạm khảo sát, được lấy từ ống phóng trọng lực tại vùng biển phía Đông Nam Vũng Tàu, đã xác định một số vị trí thuộc khu vực này có biểu hiện thoát khí methan, đây chính là dấu hiệu phát hiện khí hydrate. Kết quả này là tiền đề cơ bản, làm cơ sở cho việc tìm kiếm, điều tra khảo sát khí hydrate ở các vùng biển khác thuộc thềm lục địa Việt Nam cũng như nghiên cứu chi tiết hơn ở các giai đoạn tiếp theo.

Bài 5: ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ KHÍ NÔNG TRONG TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ VÙNG BIỂN VEN BỜ THỪA THIÊN HUẾ - BÌNH ĐỊNH

LÊ ANH THẮNG, NGUYỄN HỮU HIỆU, NGÔ THANH THỦY, NGUYỄN QUỐC HUY,
NGUYỄN VĂN THẮNG, NGUYỄN TRỌNG PHƯƠNG, NGUYỄN THỊ THÙY DUNG

Trung tâm Điều tra tài nguyên - môi trường biển, Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Kết quả điều tra của Dự án “Điều tra đặc điểm địa chất, địa động lực, địa chất khoáng sản, địa chất môi trường và dự báo tai biến địa chất vùng biển Thừa Thiên Huế - Bình Định từ 0 m đến 60 m nước tỷ lệ 1:100.000” đã xác định được một số khu vực có thoát khí và biểu hiện có khí nông. Các túi khí nông phân bố trong trầm tích Đệ tứ, độ sâu phân bố không lớn so với mặt đáy biển, chúng liên quan với các thành tạo đầm lầy, vũng vịnh cổ và ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện địa chất công trình biển trong khu vực nghiên cứu; Khí nông được phát hiện bằng phương pháp địa chấn nông phân giải cao, chúng liên quan với đới triệt tiêu sóng âm, đới phản xạ hỗn độn, xuất lộ dưới dạng cột trong nước biển và phản xạ dạng vòm nổi cao trên đáy biển. Trong vùng nghiên cứu chủ yếu có sóng âm dạng phản xạ trắng, đặc trưng bởi các phản xạ lớp trên mặt rất rõ nét nhưng khi xuống dưới lớp này thì hoàn toàn bị tán xạ không rõ nét. Tiếp đến là sóng âm dạng phản xạ hỗn độn, đặc trưng bởi các phản xạ bị nhiễu loạn thay đổi liên tục, những phản xạ bên dưới bề mặt hỗn độn có thể được nhận biết trong phạm vi nhỏ (do các phản xạ được cường hóa). Sóng âm phản xạ dạng vòm được đặc trưng bởi phản xạ có dạng vòm và nổi cao trên các mặt cắt địa chấn nông độ phân giải cao.

Bài 6: PHƯƠNG PHÁP ĐỊA CHẤN NÔNG PHÂN GIẢI CAO TRONG NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT, ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH VÙNG BIỂN VEN BỜ KHU VỰC VŨNG TÀU VÀ LÂN CẬN

VŨ BÁ DŨNG, NGUYỄN QUANG CHIẾN, NGUYỄN CAO KHUÊ, PHẠM VĂN VIỆT

Trung tâm Điều tra tài nguyên - môi trường biển, 125 Trung Kính, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Phương pháp địa chấn nông phân giải cao đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu điều tra tài nguyên, môi trường biển nói chung và địa chất công trình biển nói riêng. Việc ứng dụng phương pháp này vào nghiên cứu, đánh giá đặc điểm địa chất, địa chất công trình vùng biển ven bờ khu vực Vũng Tàu và lân cận đã thu được nhiều kết quả đáng tin cậy. Tài liệu địa chấn nông phân giải cao đã phân chia các thành tạo địa chất tầng nông tại khu vực nghiên cứu thành 04 tập địa chấn tương ứng với các thành tạo địa chất Holocen (Q2); Pleistocen muộn (Q13); Pleistocen giữa (Q12); Pleistocen sớm (Q11) và xác định được các ranh giới phụ trong Q2Q13; Bên cạnh đó việc liên kết tài liệu địa chấn nông phân giải cao với tài liệu khoan địa chất công trình và kết quả phân tích mẫu cơ lý đã phân chia các lớp theo đặc điểm địa chất công trình gồm lớp amQ23 trạng thái chảy, liên kết yếu, chịu tải kém; mQ21-2 trạng thái chảy, chịu tải kém; mQ13b trạng thái nửa cứng, dẻo cứng, liên kết vừa, chịu tải trung bình; mQ13b trạng thái chặt vừa, liên kết vừa, chịu tải trung bình; amQ13b trạng thái dẻo cứng - nửa cứng, liên kết vừa, chịu tải trung bình; amQ13a trạng dẻo cứng - nửa cứng, liên kết vừa, chịu tải trung bình; amQ12 trạng dẻo cứng - nửa cứng, liên kết vừa, chịu tải trung bình. Ngoài ra, còn phát hiện được các đứt gãy, các túi khí nông tiềm ẩn rủi ro, mất ổn định nền móng công trình, gây sụt lún, nâng hạ không đều làm ảnh hưởng đến tuổi thọ công trình tại vùng nghiên cứu.

Bài 7: ĐƯỜNG BỜ CỔ VÀ RANH GIỚI CHÉO CÁC MIỀN HỆ THỐNG TRẦM TÍCH PLEISTOCEN MUỘN-HOLOCEN  KHU VỰC BẮC BỘ VÀ BẮC TRUNG BỘ

TRẦN NGHI, NGUYỄN THỊ TUYẾN, ĐINH XUÂN THÀNH, NGUYỄN ĐÌNH NGUYÊN,
TRẦN THỊ THANH NHÀN, NGUYỄN ĐÌNH THÁI, NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

Viện nghiên cứu Địa môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu

Tóm tắt: Đường bờ cổ và ranh giới chéo của các miền hệ thống trầm tích trong Pleistocen muộn-Holocen có mối quan hệ nhân quả với sự thay đổi mực nước biển toàn cầu. Trong khu vực lãnh thổ Bắc Bộ quan hệ giữa tướng trầm tích Pleistocen muộn-Holocen và sự thay đổi mực nước biển được thể hiện qua sự phân bố các dãy cộng sinh tướng theo 3 miền hệ thống: 1) Miền hệ thống trầm tích biển thấp (LST) được đặc trưng bởi 4 đường bờ cổ và một dãy cộng sinh tướng: cuội tảng deluvi, cuội sạn proluvi, cát bột aluvi và cát bột sét châu thổ biển thoái (dr, pr, ar, amrLST). Dãy cộng sinh tướng này nằm phủ trên bề mặt bào mòn của trầm tích Pleistocen muộn, phần sớm thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc kéo dài từ 50000-20000 năm BP; 2) Miền hệ thống trầm tích biển tiến (TST) được đặc trưng bởi 4 đường bờ cổ và một dãy cộng sinh tướng từ biển vào đất liền: tướng cát bùn cửa sông, cát bột aluvi, sét đầm lầy ven biển, sét xám xanh vũng vịnh biển tiến (amt, ambt, at, mtTST). Dãy cộng sinh tướng này tạo nên một ranh giới chéo từ 18000 năm đến 6000 năm BP phủ trực tiếp trên bề mặt bào mòn biển tiến; 3) Miền hệ thống trầm tích biển cao (HST) được đặc trưng bởi 4 đường bờ cổ và một dãy cộng sinh tướng: sét sườn, bùn cát tiền châu thổ, cát bùn đồng bằng châu thổ. Dãy cộng sinh tướng biển cao tạo nên một ranh giới chéo với miền hệ thống trầm tích biển tiến kéo dài từ 5000 năm đến nay.  

Bài 8: ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ NGUYÊN TỐ TITAN TRONG TRẦM TÍCH TẦNG MẶT BIỂN VIỆT NAM TỪ 0-100 m NƯỚC

PHẠM THỊ NGA, LÊ VĂN HỌC, NGUYỄN DUY DUYẾN, TRÌNH VĂN THƯ

Trung tâm Điều tra tài nguyên - môi trường biển - Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Tóm tắt: Bài báo này dựa trên các kết quả thực hiện của Đề tài “Nghiên cứu xây dựng atlat địa hóa một số nguyên tố trong trầm tích tầng mặt biển Việt Nam (0-100 m nước)”; Mã số. TNMT.06.28. Với việc xử lý 8.914 kết quả phân tích địa hóa bằng phương pháp quang phổ plasma thu thập trong các đề tài, dự án, đề án đã thực hiện từ trước tới nay do Trung tâm Điều tra tài nguyên - môi trường biển chủ trì, tập thể tác giả đã đưa ra tổng quan về đặc điểm phân bố và xu hướng biến đổi hàm lượng của nguyên tố titan trong các trường trầm tích khác nhau theo từng vùng cụ thể, trải dài từ Móng Cái - Hà Tiên trên toàn vùng biển Việt Nam, độ sâu từ 0-100 m nước. Hàm lượng Ti cao (7.000-10.000 ppm) tập trung phân bố tại các cửa sông, vũng vịnh trong các trường trầm tích cát, cát bùn và cát bùn sạn, độ sâu 0-30 m nước (dải ven biển Bình Định - Bình Thuận). Các khu vực khác Ti phân bố không nhiều cũng như hàm lượng không cao trung bình khoảng 2.930 ppm, nhất là độ sâu từ 60-100 m nước. Đây cũng là các dấu hiệu địa hóa quan trọng trong việc phục vụ tìm kiếm sa khoáng ven biển Việt Nam.

Bài 9: MÔ HÌNH HỆ THỐNG DẦU KHÍ 3D KHU VỰC LÔ 05-3/11 THUỘC PHẦN TRUNG TÂM BỂ NAM CÔN SƠN

ĐỖ MẠNH TOÀN1, PHẠM THỊ DIỆU HUYỀN2, NGUYỄN QUANG TUẤN3, PHẠM VŨ CHƯƠNG4

Trung tâm NC TKTD & KTDK - Viện Dầu Khí VN 2 Trung tâm NC TKTD & KTDK – Viện Dầu Khí VN ; 3 Trung tâm NC TKTD & KTDK - Viện Dầu Khí VN ; 4 TNK Vietnam B.V

Tóm tắt: Khu vực trũng trung tâm bể Nam Côn Sơn bao gồm các lô 05-3/11, 06/94, 11-2, trong đó phần trũng sâu nhất thuộc khu vực lô 05-3/11. Khu vực lô 05-3/11 nằm liền kề với cụm mỏ khí, condensate được phát hiện và đưa vào khai thác là Hải Thạch, Mộc Tinh. Hiện chỉ có hai giếng khoan tại lô 05.3/11 là NH-1X và TT-1RRX không có biểu hiện dầu khí. Để đánh giá tiềm năng dầu khí của khu vực, định hướng cho kế hoạch tìm kiếm thăm dò tiếp theo, mô hình hệ thống dầu khí 3D được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các tài liệu địa chấn, tài liệu cổ môi trường, thông số địa hóa cho khu vực lô 05.3/11. Nghiên cứu chỉ ra hai khu vực phía đông và phía tây của lô 05.3/11 có những đặc điểm khác nhau về mức độ trưởng thành, thời gian sinh hydrocarbon của đá mẹ. Phần phía đông, đá mẹ Oligocen và Miocen dưới có thời gian sinh hydrocarbon bắt đầu từ 10 Tr.n trước và kéo dài cho đến hiện tại. Trong khi đó, phần phía tây, đá mẹ Oligocen và Miocen dưới có mức độ trưởng thành cao hơn với thời gian sinh hydrocarbon kết thúc sớm hơn. Đá mẹ Oligocen khu vực phía tây tại thời điểm 5 Tr.n trước đã trong pha tạo khí khô và quá ngưỡng trưởng thành ở một số trũng sâu. Chỉ còn một phần đá mẹ Miocen dưới có khoảng thời gian sinh hydrocarbon kéo dài đến 3-4 Tr.n trước. Với thời gian tạo bẫy trong tầng Miocen muộn (T85), trung bình trong khoảng 6-5 Tr.n trước cho cả hai khu vực, khi đối sánh với thời gian sinh hydrocarbon, thì các cấu tạo khu vực phía tây chứa nhiểu rủi ro hơn so với khu vực phía đông lô 05.3/11.

Bài 10. ĐẶC ĐIỂM TƯỚNG TRẦM TÍCH VÀ ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH CÁC THÀNH TẠO HOLOCEN VÙNG VEN BIỂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

VŨ VĂN LỢI1, DOÃN ĐÌNH LÂM2

1Công ty CP Tư vấn Thiết kế công trình xây dựng Hải Phòng, 36 Lý Tự Trọng, Hải Phòng;
2Viện Địa chất, Viện Hàn lâm KH&CN VN, 84 Chùa Láng, Hà Nội

Tóm tắt: Vùng ven biển quận Hải An, thành phố Hải Phòng có mặt 7 tướng trầm tích Holocen tương ứng với 7 đơn nguyên địa chất công trình, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Các tướng bùn đầm lầy ven biển, bùn cửa sông hình phễu-vũng vịnh tuổi Holocen sớm-giữa, đất ở trạng thái dẻo chảy đôi chỗ dẻo mềm. Các tướng chân châu thổ, tiền châu thổ, bãi triều và cửa sông hình phễu tuổi Holocen giữa-muộn, đất ở trạng thái chảy. Chiều dày trầm tích có xu hướng tăng dần từ giữa khu vực nghiên cứu hướng ra biển về phía Đông, Đông Bắc và có xu hướng giảm dần về hai phía Tây Bắc và Tây Nam. Các loại đất của thành tạo Holocen trong vùng nghiên cứu có các chỉ tiêu cơ lý cho thấy đất có tính nén lún lớn và không đều, độ bền kiến trúc nhỏ, đất rất yếu.

Lock full review www.8betting.co.uk 888 Bookmaker

Bản quyền thuộc Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.
Địa chỉ: Số 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Tel: (84-4) 38260674. Fax: (84-4) 38254734. Email: webmaster@dgmv.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Tổng Cục Trưởng Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.

External links are provided for reference purposes. The World News II is not responsible for the content of external Internet sites.
Template Design © Joomla Templates | GavickPro. All rights reserved.