• Thứ năm, 19 Tháng 10 năm 2017
  • Thứ năm, 19 Tháng 10 năm 2017

Tạp chí địa chất Số 351, 5-6/2015

Tạp chí địa chất

Số  351, 5-6/2015

Bài 1: NỘI DUNG BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT - KHOÁNG SẢN TỶ LỆ 1:50.000 THÀNH PHỐ HÀ NI MỞ RỘNG

ĐÀO VĂN THỊNH, ĐỖ ĐÌNH CHUNG, PHAN XUÂN THẮNG,
VŨ VĂN PHONG, TRẦN QUỐC TUẤN, NGUYỄN VĂN MINH, BÙI VĂN THAY

1Viện Địa chất và Môi trường, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội

            Tóm tắt: Trong các năm 2013-2014 Viện Địa chất và Môi trường đã tiến hành nghiên cứu bổ sung hoàn thiện bản đồ địa chất - khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 thành phố Hà Nội. Bản đồ được thành lập trên cơ sở kế thừa các bản đồ cũ, kết quả khảo sát bổ sung tại thực địa về diện phân bố của một số phân vị địa chất, vị trí các điểm khoáng sản, bổ sung các thông tin giải đoán từ ảnh viễn thám. Bản đồ có nền địa hình VN2000 giản lược, chứa đựng nhiều lớp thông tin, bao trùm toàn bộ diện tích thành phố (thành phố Hà Nội cũ và phần diện tích mới sáp nhập). Trên bản đồ thể hiện các nội dung chính như: diện phân bố các phân vị địa chất (23 phân vị địa tầng và 1 phức hệ xâm nhập); ranh giới địa chất; các đứt gãy kiến tạo; các photolineament; các cấu trúc vòng; các mỏ khoáng sản; một số dạng tai biến địa chất và các thông tin phụ trợ khác.

 

Bài 2: NGHIÊN CỨU LŨ CỔ TRÊN CƠ SỞ CÁC TÍCH TỤ TRẦM TÍCH TRONG HỒ MÓNG NGỰA TRÊN SÔNG ĐẮK BLA (KHU VỰC TÂY NGUYÊN)

ĐỖ TRỌNG QUỐC1, VŨ VĂN TÍCH1, TRỊNH THỊ THÚY2,
PHẠM NGUYỄN HÀ VŨ1, NGUYỄN ĐÌNH NGUYÊN1, AN VĂN TÂN3,
TRẦN THỊ THU TRANG1, NGUYỄN THỊ OANH1, HOÀNG VĂN HIỆP1

1Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

2Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Km 9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

3Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình, Trần Hưng Đạo, Tân Thành, Ninh Bình

Tóm tắt: Các trận lũ cổ xảy ra trong quá khứ ở các hồ móng ngựa dọc lưu vực sông Đắk Bla được nhận dạng dựa trên kết quả phân tích độ hạt, đặc điểm phân bố độ hạt và tốc độ lắng đọng trầm tích trong hồ. Kết quả phân tích 210Pb trong cột lõi khoan sâu 7 m tại hồ móng ngựa, lưu vực sông Đắk Bla cho thấy 04 lớp trầm tích đặc trưng cho các trận lũ cổ có thành phần trên 50% là cát, còn lại là bột và sét. Các lớp trầm tích này có cấp hạt trung bình thay đổi theo độ sâu như sau: Md = 0,266 mm, 0,210 mm, 0,180 mm và 0,262 mm lần lượt tương ứng với các độ sâu là 15-41 cm, 142-145 cm, 190-407 cm và 419-462 cm. Tốc độ lắng đọng trầm tích trung bình khoảng 4,02 cm/năm trên tổng độ dày là 7 m, trong đó có 03 giai đoạn có tốc độ lắng đọng lớn hơn gấp từ 9 đến 27 lần tốc độ lắng đọng trầm tích trung bình, tương ứng với các lớp trầm tích lũ xác định được nêu trên cụ thể là tại vị trí OBS1-5 (15-41 cm), OBS1-15 (190-407 cm) và OBS1-17 (419-462 cm). Kết hợp giữa số liệu phân tích độ hạt và tốc độ lắng đọng trầm tích có thể nói lưu vực sông Đắk Bla đã từng xảy ra 04 trận lũ lớn tương ứng với khoảng các năm 1972, 1984, 1996 và 2009. Tần suất của các lần lũ lớn ở khu vực Kon Tum trong vòng 50 năm lại đây dao động bình quân trong khoảng 12 năm/lần.

Bài 3: ĐẶC ĐIỂM VÀ QUY LUẬT PHÂN BỐ TRẦM TÍCH TẦNG MẶT VÙNG CHÂU THỔ NGẦM SÔNG MÊ KÔNG

ĐINH XUÂN THÀNH, NGUYỄN ĐÌNH NGUYÊN, PHẠM NGUYỄN HÀ VŨ,
NGUYỄN ĐÌNH THÁI, TRẦN THỊ THANH NHÀN, NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN, 334 Nguyễn Trãi, Quận Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Vùng châu thổ ngầm sông Mê Kông là vùng ngập nước của châu thổ sông Mê Kông, phân bố ở độ sâu từ 0-28 m nước kéo dài từ phía Bắc cửa sông Tiểu đến phía Nam cửa sông Trần Đề. Tại vùng này đã phát hiện được năm trường trầm tích tầng mặt có thành phần gồm: cát sạn, cát, cát bùn, bùn cát và bùn. Ở độ sâu 0-25 m nước, trầm tích tầng mặt phân bố theo quy luật phân dị độ hạt, mịn dần theo độ sâu đáy biển. Trầm tích cát phân bố ở độ sâu 0-10 m nước, sau đó đến cát bùn 10-15 m nước, cuối cùng là bùn phân bố ở độ sâu lớn hơn >15 m nước. Ở độ sâu trên 25 m nước phân bố các trường trầm tích cát sạn, cát chọn lọc tốt trầm tích phân bố theo quy luật phân dị độ hạt, mịn dần từ gần bờ ra xa bờ (từ cát đến cát bùn, bùn cát và bùn). Đây là những trường trầm tích hiện đại (Q23) hình thành trong giai đoạn biển lùi sau biển tiến Flandrian. Ở độ sâu lớn hơn 25 m nước phân bố các trường trầm tích hạt trung đến thô như cát, cát sạn hình thành trong giai đoạn biển tiến Flandrian (Q13b-Q22).

Bài 4: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TRẦM TÍCH TẦNG MẶT KHU VỰC CỒN NỔI, HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH

LÊ THỊ NGỌC TÚ, LÊ TIẾN DŨNG, HOÀNG VĂN LONG, VŨ LÊ TÚ

Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Phường Đức Thắng, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Khu vực Cồn Nổi nằm ở cửa sông Đáy, thuộc địa phận huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Đây là một trong những vùng lắng đọng trầm tích điển hình cho quá trình tương tác sông-biển. Ngoài ra, khu vực này còn có ý nghĩa quan trọng trong quy hoạch phát triển kinh tế biển của địa phương. Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy thành phần trầm tích trên bề mặt khu vực Cồn Nổi chủ yếu là cát, cát bột, bột cát có lẫn nhiều vảy mica. Quá trình tương tác tổng hợp giữa các yếu tố dòng chảy sông Đáy, sóng, thủy triều và nguồn cung cấp vật liệu trầm tích dẫn đến sườn phía đông nam khu vực Cồn Nổi đặc trưng bởi các hạt thô, chịu chế độ xói lở là chủ yếu, trong khi sườn phía tây, tây nam lại tích tụ trầm tích hạt mịn. Cồn Nổi có xu hướng dịch chuyển về phía tây. Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy sự thiếu hụt nguồn trầm tích do việc xây đắp các công trình thủy điện ở thượng lưu hệ thống sông Hồng, sông Đà được cho là nguyên nhân chính dẫn đến sự xói lở vùng ven biển phía Tây Bắc Bộ nói chung và khu vực Cồn Nổi nói riêng.

Bài 5: CHẤT LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT VÙNG VEN BIỂN HÀ TĨNH
VÀ KHẢ NĂNG KHAI THÁC SỬ DỤNG

PHAN VĂN TRƯỜNG, DƯƠNG VĂN NAM

Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
18 Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Kết quả phân tích và đánh giá chất lượng nước dưới đất khu vực ven biển Hà Tĩnh đã cho thấy nước dưới đất ở đây chịu ảnh hưởng bởi quá trình xâm nhập của nước biển và các hoạt động kinh tế, xã hội. Ở vùng trung tâm đồng bằng và dải ven biển, nước có hàm lượng clorua và tổng độ chất rắn hòa tan tương đối cao, có xu hướng tăng vào mùa khô hạn. Mức độ hòa tan rửa lũa đá vôi, đá granit vào nước dưới đất làm tăng độ cứng toàn phần trong nước. Các tầng chứa nước trên mặt có hàm lượng các hợp chất nitơ cao hơn vào mùa mưa, các chỉ tiêu khác ít biến động và có nồng độ nằm trong giới hạn ô nhiễm cho phép. Trên cơ sở kết quả phân tích thành phần hóa học của nước trong hai tầng chứa nước chính Holocen và Pleistocen đã xác định được 03 mức chất lượng nước: chất lượng rất tốt, chiếm 590 km2, phân bố chủ yếu ở vùng đất cát ven biển và rìa phía tây của vùng nghiên cứu; chất lượng nước tốt, chiếm 890 km2, phân bố ở vùng trung tâm đồng bằng và chất lượng nước trung bình chiếm 505 km2. Nguồn nước nhạt dưới đất nhìn chung có chất lượng đảm bảo, đáp ứng nhu cầu cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu.

Bài 6: CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT, ĐỊA CHẤT THỦY VĂN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH THẤU KÍNH NƯỚC NHẠT TRONG TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ PHÍA NAM ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

HOÀNG VĂN HOAN, NGUYỄN VĂN LÂM

Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Phường Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội

      Tóm tắt: Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu cấu trúc địa chất, địa chất thủy văn, lịch sử tiến hóa trầm tích trong vùng nghiên cứu kết hợp với các kết quả phân tích đồng vị, bài báo đã xác định được hệ thống các đứt gãy theo hướng tây bắc - đông nam trong các thành tạo Trias, các thành tạo trước Kainozoi vùng Nam Định và ngoài thềm lục địa khu vực nghiên cứu đóng vai trò là hệ thống kênh chứa nước và lưu thông nước rất tốt theo hướng từ đất liền ra biển. Đồng thời kết quả nghiên cứu địa chất thủy văn đồng vị đã cho thấy, các tầng chứa nước Trias, Neogen và Pleistocen trong vùng có quan hệ thủy lực với nhau thông qua hệ thống các đứt gãy, khe nứt và lỗ hổng của đất đá chứa nước; nước dưới đất nhạt trong tầng chứa nước Pleistocen vùng nghiên cứu có nguồn gốc từ nước khí tượng, có tuổi từ hiện tại đến hơn 11.300 năm.

 

Bài 7: TÁC ĐỘNG CỦA KHOÁNG VẬT ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG

MAI TRỌNG TÚ

Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Tóm tắt: Trong cuộc sống, con người thường xuyên tiếp xúc với các loại khoáng vật khác nhau như calcit, thạch cao, halit… Ngoài những tác động mang tính tích cực trong trị liệu, chữa bệnh, cố định xương, làm xương giả, sản xuất dụng cụ y tế… thì các khoáng vật còn có tác động tiêu cực đến sức khỏe con người. Các khoáng vật sulfur, ngoài việc tạo nên dòng chảy acid thì chúng còn chứa các tạp chất độc hại của Sb, Se, Te, As, Cd, Pb, Hg, Cu, Co, Ni...; các khoáng vật oxyt, hydroxyt, silicat và alumosililcat thường có mặt trong không khí ở dạng bụi và là nguyên nhân gây các bệnh nặng về đường hô hấp... Mặc dù, khoáng vật luôn tồn tại và song hành với môi trường sống của con người, nhưng nguồn cung cấp và phát tán khoáng vật độc hại lớn nhất vẫn là từ hoạt động khai thác, làm giàu và chế biến khoáng sản. Tác động tiêu cực của nhóm mỏ siderophil và chalcophil hay lithophil thường khác nhau bởi các đặc tính địa hóa khác nhau. Tuy nhiên các nhóm mỏ này đều có cơ chế chung giải phóng vào môi trường các nguyên tố kim loại độc hại dưới dạng ion hay phức chất ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp đến môi trường cũng như sức khỏe con người.          

 

Bài 8: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA NGUYÊN TỐ MOLIPDEN VÀ KHẢ NĂNG SINH KHOÁNG CỦA GRANITOID KHU VỰC NGỌC TỤ, ĐĂK TÔ, KON TUM

NGUYỄN VĂN NIỆM, ĐỖ ĐỨC NGUYÊN, NGUYỄN MINH LONG,
ĐOÀN THỊ NGỌC HUYỀN, BÙI HỮU VIỆT, ĐẶNG MỸ CUNG

Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu đặc điểm địa hóa của molybden trong granitoid vùng Ngọc Tụ cho thấy hành vi địa hóa của nó trong đá gốc, trong các đới đá biến đổi và đới biểu hiện khoáng hóa rất khác nhau. Trong đá gốc, molybden thể hiện tính lithophil (Mo-Ta, Mo-Nb, trái lại, trong đới biến đổi và khoáng hóa, nó thể hiện tính siderophil mạnh mẽ (Mo-Cu-Cr-Co) nhưng vẫn có tính lithophil (Mo-La). Độ tập trung, tính linh động của molybden trong granitoid Ngọc Tụ khá cao (Ktt = 4,73; V = 92,88%) và hàm lượng của nó biến đổi khá mạnh theo không gian. Trên cơ sở tính phân đới đứng của các nguyên tố (từ dưới lên trên BeCoCdZnVSnCuMoWBiAsCrPbBa), tính phân đới ngang (có sự dịch chuyển Mo vào dung dịch tạo quặng khi granitoid biến đổi và xuất hiện khoáng vật molybdenit…), đặc điểm phân bố các dị thường địa hóa (Mo, Bi, Cu) và đặc điểm địa chất (xuất hiện các khối granitoid nhỏ chưa xuất lộ), granitoid Bà Nà thuộc trường sinh khoáng molybden và thuộc kiểu địa hóa thuận lợi sinh khoáng hóa này, cho thấy khả năng sinh khoáng molybden của granitoid khu vực Ngọc Tụ và ở dưới sâu có thể còn.

Bài 9: CÁC CỤM DI SẢN Ở CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT TOÀN CẦU CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUY HOẠCH CÔNG VIÊN ĐỊA CHẤT

NGUYỄN ĐẠI TRUNG1, TRẦN TÂN VĂN1, PHẠM KHẢ TÙY3,
ĐOÀN NHẬT TRƯỞNG2, ĐÀM NGỌC4, ĐỖ VĂN THẮNG1, TRẦN MINH THUẬN1,
ĐINH TIẾN DŨNG1, TRỊNH THỊ THÚY1, NGUYỄN PHÚC ĐẠT1

1Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Km9, Thanh Xuân, Hà Nội;

2Hội Cổ Sinh - Địa tầng;3Hội Địa mạo - Đệ tứ; 4Hội Kiến tạo

Tóm tắt: Cao nguyên đá Đồng Văn được UNESCO vinh danh là Công viên Địa chất Toàn cầu đã mở ra nhiều cơ hội phát triển cho mảnh đất vùng cao địa đầu Tổ quốc. Sau năm năm đón nhận danh hiệu, bên cạnh những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế - văn hóa - xã hội, chính quyền và người dân nơi đây đang phải đối mặt với những thách thức về vấn đề bảo tồn và phát huy tích cực những giá trị của di sản. Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn là việc làm cấp thiết, đòi hỏi cần có một chiến lược đúng đắn, linh hoạt của các cấp quản lý, sự ủng hộ của cộng đồng trong nước và quốc tế. Với vai trò là những người tham gia quá trình xây dựng hồ sơ trình UNESCO cũng như tham gia các công tác điều tra, đánh giá, bảo tồn và sử dụng hợp lý các Di sản địa chất Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, một số nội dung khoa học được giới thiệu để đóng góp định hướng vào công tác xây dựng quy hoạch chi tiết.

 

Bài 10: XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ DỮ LIỆU THUẬT NGỮ ANH-VIỆT CHUYÊN NGÀNH ĐỊA CHẤT BẰNG PHẦN MỀM MÃ NGUỒN MỞ

BÙI BẢO TRUNG1, PHẠM NGUYỄN HÀ VŨ2

1Trung tâm Nghiên cứu Đô thị, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
2Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, 334 Nguyễn Trãi, Quận Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Dữ liệu thuật ngữ Anh-Việt chuyên ngành địa chất được xây dựng để hỗ trợ cán bộ nghiên cứu, sinh viên thuộc các ngành địa chất, tài nguyên môi trường sử dụng trong học tập và nghiên cứu khoa học. Dữ liệu được quản lý nhờ phần mềm mã nguồn mở Geoterms chạy trên hệ điều hành Window của Microsoft có giao diện đơn giản, dễ sử dụng, phù hợp với người không có trình độ tin học cao. Phần mềm Geoterms cho phép không chỉ quản lý dữ liệu thuật ngữ ngành địa chất, tài nguyên và môi trường mà còn có thể mở rộng với từ điển thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác. Người dùng có thể cài đặt sử dụng phần mềm thông qua mạng internet miễn phí. Ngoài ra dữ liệu được xây dựng thông qua phần mềm Super Power Dict có thể phát triển thành phần mềm chạy trên điện thoại smartphone và máy tính bảng sử dụng hệ điều hành Android thông qua phiên bản mSPDict.

 

Lock full review www.8betting.co.uk 888 Bookmaker

Bản quyền thuộc Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.
Địa chỉ: Số 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Tel: (84-4) 38260674. Fax: (84-4) 38254734. Email: webmaster@dgmv.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Tổng Cục Trưởng Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.

External links are provided for reference purposes. The World News II is not responsible for the content of external Internet sites.
Template Design © Joomla Templates | GavickPro. All rights reserved.