• Thứ ba, 21 Tháng 11 năm 2017
  • Thứ ba, 21 Tháng 11 năm 2017

Tạp chí địa chất Số 352-354/7-12/2015

Tạp chí địa chất

Số  352-354/7-12/2015

SỐ KỶ NIỆM 40 NĂM THÀNH TỰU VÀ PHÁT TRIỂN LIÊN ĐOÀN BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT MIỀN NAM
(1975-2015)

Thư chúc mừng của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bài 1: TỪ LIÊN ĐOÀN ĐỊA CHẤT 6 ĐẾN LIÊN ĐOÀN BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT MIỀN NAM - 40 NĂM THÀNH TỰU VÀ PHÁT TRIỂN

THÁI QUANG

Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

 

Bài 2: CÁC ĐỚI KIẾN TẠO PHẦN ĐẤT LIỀN NAM VIỆT NAM

NGUYỄN XUÂN BAO, DƯƠNG VĂN CẦU, TRỊNH VĂN LONG

Hội Địa chất Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Phần đất liền Nam Việt Nam, kéo dài từ Tây Thừa Thiên - Huế và Đà Nẵng đến Cà Mau có thể chia thành ba đơn vị kiến tạo chính: (1) Địa khu biến chất cao đa kỳ Kon Tum phân bố ở Trung Trung Bộ được cấu tạo bởi phần lõi là khối craton Paleoproterozoi-Mesoproterozoi Ngọc Linh - Kan Nắck, còn phần rìa là các đai tạo núi tuổi Caledon sớm Hiệp Đức - Sa Thày và Caledon muộn Ea Kar - Ea Drăng. Trên địa khu biến chất cao Kon Tum có sự phát triển mạnh mẽ của các tổ hợp thạch - kiến tạo đa dạng sau Caledon bị biến dạng đa kỳ; (2) Đai tạo núi Sre Pok – Tây Nam bộ phân bố chủ yếu ở phần phía tây các tỉnh Nam Trung bộ và Tây Nam bộ. Đây là một phần của phần phía tây nam địa khu Indochina. Khu vực này đã từng trải qua các bối cảnh kiến tạo khác biệt trong đó là một bộ phận của rìa lục địa căng dãn trong Carbon muộn-Permi và sau đó trải qua chế độ tạo núi tạo núi Indosinia do sự va chạm của rìa lục địa này với mảng Sibumasu trong Trias; (3) Đai tạo núi Yanshan sớm Đà Lạt gồm diện tích các tỉnh Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Hoạt động tạo núi của đới này xảy ra trong Jura muộn-Creta sớm khi rìa phía đông của địa khu Đông Dương va chạm với vi địa khối Trường Sa - Luconia. Ngoài ra, ở phần lãnh thổ đất liền Nam Việt Nam còn có các đơn vị kiến tạo chồng gối quan trọng là: 1) Cung magma rìa lục địa căng dãn Mesozoi muộn Nam Việt Nam, 2) Tỉnh magma basalt khuếch tán Kainozoi muộn Tây Nguyên và 3) Bồn căng dãn Kainozoi muộn Châu thổ sông Mekong.

Bài 3: LỊCH SỬ TIẾN HÓA KIẾN TẠO GIAI ĐOẠN PALEOZOI MUỘN - MESOZOI SỚM TÂY NAM VIỆT NAM VÀ VÙNG KẾ CẬN

ĐÀO VIẾT CẢNH1, PHẠM HUY LONG1, ĐỖ VĂN LĨNH2

[1]Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP), 12 Tân Trào, Q.7, Tp. HCMinh

2Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. HCMinh

Tóm tắt: Bình đồ cấu trúc Tây Nam Việt Nam và vùng kế cận vào cuối Mesozoi sớm gồm 4 đơn vị kiến tạo chính: Sibumasu, Chanthaburi, Tonle Sap - Sài Gòn và Indochina. Ranh giới giữa chúng là các đới khâu Klaeng (Chanthaburi) - Bentong Raub, Sa Kaeo - Hòn Chuối và Tây Ninh. Lịch sử tiến hóa kiến tạo giai đoạn Paleozoi muộn - Mesozoi sớm Tây Nam Việt Nam và vùng kế cận đã trải qua 5 thời kỳ: 1) Từ Devon đến đầu Carbon muộn, khối lục địa Indochina được tách ra và di chuyển, trôi dạt khỏi siêu lục địa Gondwana, tạo Paleo-Tethys; 2) Từ Carbon muộn đến đầu Permi, vỏ đại dương Paleo-Tethys bị hút chìm dưới khối lục địa Indochina, tạo rìa lục địa tích cực (kiểu Sunda) với biển sau cung Hòn Chuối; 3) Vào Permi - Trias giữa, không chỉ có cung đảo núi lửa Chanthaburi mà cả vi lục địa Tonle Sap - Sài Gòn được tách khỏi khối lục địa Indochina, tạo biển sau cung Sisophon - Hà Tiên chồng lên biển Hòn Chuối và biển Ro Viêng - Tà Thiết (kiểu cung đảo Nhật Bản). Vào cuối Permi sớm, khối lục địa Sibumasu tách khỏi siêu lục địa Gondwana, tạo Meso-Tethys; 4) Từ cuối Trias giữa đến Trias muộn, vỏ đại dương Paleo-Tethys, biển Sisophon - Hà Tiên và Ro Viêng - Tà Thiết bị hút chìm và tiêu biến, tạo các cung núi lửa Chanthaburi, Sa Kaeo - Kampot - Hòn Khoai, Attapeu - Chư Klin; 5) Quá trình ghép nối, va mảng và tạo núi giữa các khối lục địa Sibumasu, Chanthaburi, Tonle Sap - Sài Gòn và Indochina vào Trias muộn là nguyên nhân tạo bể trầm tích Phú Quốc kiểu giữa núi tuổi Trias muộn đến Jura giữa và đai granit kiểu S chứa thiếc nam Thái Lan - Tây Malaysia tuổi Trias muộn kỳ Nori. Tuy đã có một số di chỉ của đới khâu Sa Kaeo - Hòn Chuối ở phía nam và đới khâu Tây Ninh, song cần tiếp tục tìm kiếm thêm.

Bài 4: TUỔI ĐỒNG VỊ Rb-Sr ĐÁ TỔNG VÀ U-Pb ZIRCON CỦA GRANITOID TRONG MÓNG MỎ BẠCH HỔ, RỒNG THUỘC
BỒN TRŨNG CỬU LONG, NAM VIỆT NAM VÀ Ý NGHĨA
ĐỊA CHẤT CỦA NÓ  

VŨ NHƯ HÙNG1, THÁI QUANG2, LƯU THẾ LONG2, NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY3

1Viện Nghiên cứu Khoa học và Thiết kế Dầu khí biển, Liên doanh Việt Nga, Vietsovpetro, 105 Lê Lợi, Vũng Tàu; 2Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh ; 3Tạp chí Địa chất, 6 Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Tóm tắt: Granitoid trong móng mỏ Rồng, mỏ Bạch Hổ thuộc bồn trũng Cửu Long ở phần biển Nam Việt Nam có thành phần thạch học gồm diorit, granodiorit và ít hơn là granit. Đá bị dập vỡ, nứt nẻ, màu xám, xám sáng, cấu tạo khối, khoáng vật màu là biotit, ít hơn là horblend. Trước kia, ranitoid này được xếp vào phức hệ Hòn Khoai tuổi T3-J1 hoặc phức hệ Bến Giằng - Quế Sơn tuổi C3-P1 dựa trên tuổi đồng vị K-Ar. Để làm sáng tỏ và chính xác hóa tuổi thành tạo của granitoid bồn trũng Cửu Long và ý nghĩa địa chất của nó, zircon tách từ granitoid lấy ở mỏ Rồng, Bạch Hổ được phân tích đồng vị U-Pb và cho tuổi kết tinh lần lượt tương ứng là 94,2 Tr.n và 115,5 Tr.n. Ngoài ra, tuổi kết tinh của chúng còn được xác định bằng đồng vị Rb-Sr trên đá tổng lần lượt là 79,5 Tr.n và 130 Tr.n, tuy nhiên giá trị tuổi này chỉ mang tính chất tham khảo do Rb là nguyên tố linh động trong các quá trình địa chất. Tuổi thành tạo của granitoid trong bài báo này được lấy theo tuổi U-Pb zircon và tương ứng với Creta sớm. Các giá trị tuổi này tương đồng với tuổi thành tạo granitoid phức hệ Định Quán và Đèo Cả phân bố trên đới Đà Lạt, đồng thời chỉ ra vùng nghiên cứu có tồn tại hoạt động magma trong giai đoạn Creta. Điều này giúp cho việc định hướng tìm kiếm mở rộng dầu khí dọc bờ biển Việt Nam nơi có phân bố granitoid tuổi Creta sớm.

Bài 5: ĐẶC ĐIỂM TRẦM TÍCH VÀ DAO ĐỘNG MỰC NƯỚC BIỂN
TRONG HOLOCEN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

ĐỖ VĂN LĨNH, NGUYỄN HUY DŨNG, NGUYỄN HUỲNH THIÊN HƯƠNG, PHẠM THẾ TÀI, NGUYỄN ĐAN VŨ, TRỊNH MINH PHUÔNG, TRẦN VĂN TOÀN, BÙI THẾ VINH, HUỲNH HỒ

Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Trầm tích Holocen ở đồng bằng Sông Cửu Long đặc trưng bởi 5 phân vị địa tầng: Q21; Q221; Q222; Q231; Q232 tương ứng với bề dày thay đổi từ 0,5-40 m, 1-33 m, 0,8-25 m, 0,5-22,5 m, 0,5-10 m. Gặp chủ yếu trong lỗ khoan (Q21, Q221) hoặc lộ ra trên mặt (Q222, Q231, Q232), mặt cắt kiểu thô-mịn, mịn-thô xen nhiều vật chất hữu cơ. Phân lớp chủ yếu là ngang - xiên nghiêng (Q21); song song (SS) - xiên chéo (Q221); lượn sóng SS, đứt đoạn, hỗn độn (Q222); lượn sóng- SS không liên tục (Q231); SS-không đều, hỗn độn ứng với màu sắc xám trắng, xám xanh, vàng, nâu, đen; nguồn gốc sông, sông biển, biển là chính. Tốc độ lắng đọng trầm tích trung bình thay đổi từ nhỏ nhất 0,11 mm/năm, đến lớn nhất 11,5 mm/năm, trung bình 5,8 mm/năm với xu thế giảm dần từ Holocen giữa đến nay.

Dao động mực nước biển ở đồng bằng Sông Cửu Long gồm 02 vĩ kỳ: cuối Pleistocen muộn-đầu Holocen sớm đến 6,0 Ka, BP là vĩ kỳ biển tiến cực đại, mực nước biển dâng là 4,0-4,5 m so với mực nước biển hiện tại vào khoảng 6,0 Ka, BP. Từ 6,0 Ka- nay là vĩ kỳ biển lùi với 4 đợt: 1) Từ 4,5-5,7 Ka; 2) Từ 3,5-2,5 Ka; 3) Từ 2,5-1,5 Ka; 4) Từ 1,5 Ka - nay. Cao độ mực nước biển ứng với đợt 2 và đợt 3 là 2,8-3,3 m và 0,7-1,3 m. Biển lùi đợt 1 và đợt 4 vẫn chưa rõ di chỉ ngấn biển để lại. Hiện tại, mực nước biển có xu thế dâng, dự báo mực nước biển dâng cực đại trong tương lai ở đồng bằng Sông Cửu Long cao nhất chỉ đạt 4,0-4,5 m và mất ít nhất 600 năm nữa nếu tốc độ dâng lặp lại là 7,5 mm/năm. Điều này có nghĩa là 100 năm tới mực nước biển sẽ dâng thêm 0,75 m ở đồng bằng Sông Cửu Long.

Bài 6: TÀI LIỆU MỚI VỀ TRẦM TÍCH MÀU ĐỎ Ở ĐÔNG NAM MĂNG ĐEN HUYỆN KON RẪY - KON PLONG, TỈNH KON TUM

TRẦN DUÂN1, BÙI PHÚ MỸ2, NGUYỄN THANH TRÀ1

1Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh; 2Hội Địa chất Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Kết quả đo vẽ lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Kon Plong đã phát hiện mới diện phân bố các trầm tích lục địa màu đỏ ở đông nam Măng Đen. Chúng lộ ra ở Kon Leng thuộc xã Đắk Long, huyện Kon Plong đến Kon Gộp thuộc xã Đắk Pne, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum tạo thành một bồn trũng trầm tích hình elip với diện tích rộng khoảng 68 km2. Thành phần thạch học gồm: cuội kết, cuội sạn kết đa khoáng, sạn kết, cát sạn kết, cát kết màu nâu đỏ - xám tro, bột kết, sét kết màu nâu đỏ xen ít sét bột kết màu xám đen. Trong lớp cát kết xen lớp mỏng bột kết có chứa hóa thạch Thân gỗ silic hóa.

 

Bài 7: KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU QUAN TRẮC BỒI TỤ VÀ BÓC MÒN HIỆN ĐẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TRONG GIAI ĐOẠN 2013-2014

ĐỖ VĂN LĨNH1, NGUYỄN ĐAN VŨ1, TRẦN VĂN TOÀN1, TRẦN VĂN NAM1, TRỊNH MINH PHUÔNG1, MA CÔNG CỌ2

1Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh
2Hội Địa chất Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Đồng bằng Sông Cửu Long được đặc trưng bởi bồi tụ và bóc mòn khác nhau ở 20 phụ khối cấu trúc - địa động lực hiện đại. Giá trị trung bình bồi tụ năm 2013 là 0,22 mm/năm, năm 2014 là 0,19 mm/năm. Biên độ bồi tụ trung bình năm giai đoạn 2013-2014 toàn vùng nghiên cứu là 0,20 mm/năm, bóc mòn trung bình là -2,71 mm/năm. Lượng trầm tích bồi đắp lên đồng bằng năm 2013 là 8,25 triệu m3, năm 2014 là 7,13 triệu m3, trung bình năm là 7,5 triệu m3. Xu thế nâng cao cote nền do bồi tụ ở Đồng bằng Sông Cửu Long tương ứng đến 2050 là 7 mm và đến năm 2100 là 14 mm. Tốc độ bồi tụ trung bình năm nâng cao cote nền Đồng bằng Sông Cửu Long nhỏ hơn 8 đến 9 lần so với tốc độ trung bình nước biển dâng toàn cầu hiện nay là 1,6-1,8 mm/năm (ICCP). Kết quả rất có ý nghĩa cho việc hiệu chỉnh mô hình độ cao số để hoàn thiện kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng và đề xuất giải pháp thích ứng ở Đồng bằng Sông Cửu Long.

 

Bài 8: MỘt vài vẤn đỀ đỊa chẤt ĐỆ tỨ Ở ĐỒng bẰng
Nam bỘ trên cơ sỞ phân tích đỊa mẠo - trẦm tích

VŨ VĂN VĨNH1, NGUYỄN HUY DŨNG1, TRỊNH NGUYÊN TÍNH2, TRẦN VĂN NAM3

1Hội Địa chất Tp. HCM, 2Trung tâm Điều tra tài nguyên - môi trường biển, 125 Trung Kính, Quận Cầu Giấy, Hà Nội; 3Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Bằng ba cách tiếp cận - tiếp cận hiện tại luận, tiếp cận theo chuỗi phát sinh hình thái và tiếp cận bề mặt tích tụ Pleistocen muộn, bài báo phân tích, hệ thống hóa, giới thiệu: 1) Hệ thống 6 bậc thềm - đồng bằng thấp, 6 ngấn nước và độ cao của chúng ở đồng bằng Nam Bộ; 2) 06 chuỗi phát sinh hình thái liên quan với các bậc thềm biển, đồng bằng, giồng cát, ngấn nước, tuổi tuyệt đối trong khoảng 8000-6200 năm, 5.570±260 đến 4.550±220 năm, 3760±55năm đến 2.780±140 năm, 2580±70 năm đến 1.600±90 năm, 1.590±90 năm đến 290±20 năm, 180 năm đến nay; 3) Mức độ nâng hạ, hoạt động của một số đứt gãy sau Pleistocen muộn.

 

Bài 9: LÚN MẶT ĐẤT TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG:
PHẢI CHĂNG DO KHAI THÁC NƯỚC DƯỚI ĐẤT?

NGUYỄN VIỆT KỲ1, LÊ XUÂN THUYÊN2, ĐÀO HỒNG HẢI1, ĐỖ VĂN LĨNH3

1Đại học Bách khoa Tp. HCM, 268 Lý Thường Kiệt, Q.10, Tp. HCM; 2Đại học Khoa học Tự nhiên ĐHQG-HCM, 227 Nguyễn Văn Cừ, Q.5, Tp. HCM; 3Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. HCM

Tóm tắt: Hiện tượng lún bề mặt đất tại Đồng bằng sông Cửu Long đã được nhiều tác giả nghiên cứu và công bố tại một số đề tài nghiên cứu, hội nghị, hội thảo. Hầu hết đều cho rằng lún bề mặt đất tại đây là do khai thác nước dưới đất quá mức. Bài báo này đặt lại vấn đề: Phải chăng lún bề mặt đất chỉ là do khai thác nước dưới đất hay còn những nguyên nhân khác nữa? Bằng những kết quả tính toán theo công thức Lohman và những kết quả quan trắc lún nông của một nghiên cứu khác, nhóm tác giả có những nhận định hoàn toàn khác với những kết luận trước đây đó là: lún ở Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều nguyên nhân, trong đó lún mặt đất do khai thác nước dưới đất chiếm một phần rất nhỏ (trung bình 0,36 mm/năm), mà chủ yếu là do quá trình trầm nén trầm tích, trong trường hợp này là lún cố kết lớp bùn sét trên bề mặt. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả có những kiến nghị về công tác khai thác và phát triển bền vững nguồn tài nguyên nước dưới đất trong bối cảnh vùng này đang chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu.

 

Bài 10: ĐÁNH GIÁ ỔN ĐỊNH MÁI DỐC TẠI MỎ ĐÁ 3/2 TỈNH BÌNH DƯƠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG NGUY CƠ TRƯỢT LỞ

VÕ ĐẠI NHẬT1, NGUYỄN TIẾN SƠN2, PHẠM MINH TUẤN1, VÕ THANH LONG1

1 Đại học Bách Khoa Tp. HCM, 268 Lý Thường Kiệt, Q.10, Tp. Hồ Chí Minh; 2Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Bài báo giới thiệu kết quả đánh giá ổn định mái dốc đất tại mỏ đá 3/2 ở Bình Dương dưới tác dụng của tải trọng ngoài dự kiến là 20 kN/m2 dựa vào giá trị hệ số an toàn được tính toán bằng phần mềm GeoSlope/W, từ đó đánh giá kết quả đạt được và đề xuất giải pháp phòng chống nguy cơ trượt lở. Kết quả phân tích các mặt cắt với khoảng cách 5 m cho thấy rằng một vài vị trí trong khu vực nghiên cứu có hệ số an toàn tính toán nhỏ hơn cho phép. Với đặc trưng mái dốc và điều kiện thi công thực tế tại khu vực nghiên cứu, giải pháp bạt mái được sử dụng với mục đích làm giảm độ dốc mái dốc khu vực nghiên cứu. Giải pháp được đề xuất cho kết quả phân tích hệ số an toàn thay đổi trong phạm vi từ 1,20 đến 1,32, lớn hơn hệ số an toàn yêu cầu là 1,1 đối với tất cả các vị trí mặt cắt tính toán có góc dốc từ 30o đến 35o.

 

Bài 11: ĐỘ NGUY HIỂM ĐỘNG ĐẤT TẠI KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỖ VĂN LĨNH1, CÁT NGUYÊN HÙNG1, NGUYỄN NGỌC THU1, CAO ĐÌNH TRIỀU2, NGUYỄN ĐÌNH XUYÊN2, PHAN THU NGA3, NGUYỄN THU HẰNG3

1Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh; 2Viện Vật lý Địa cầu, Hoàng Quốc Việt, Q.Cầu Giấy, Hà Nội; 3Sở Khoa học Công Nghệ Tp. Hồ Chí Minh, Điện Biên Phủ, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Trong bài báo này các tác giả giới thiệu một số kết quả nghiên cứu đánh giá độ nguy hiểm động đất tại khu vực Tp. Hồ Chí Minh. Cường độ chấn động lớn nhất do động đất gây ra tại khu vực Tp. Hồ Chí Minh là cấp VII theo thang MSK-64, gia tốc nền lớn nhất là PGA = 0,10 g trên nền loại A. Gia tốc dao động nền đối với các chu kỳ lặp lại tương ứng như sau: 500 năm là PGA = 0,03-0,06 g (I = VI-(MSK-64); 1.000 năm có PGA = 0,06- 0,07 g, (I = VII- MSK- 64); 2.500 năm, PGA= 0,07-0,09 g, (I = VII-MK-64); 5.000 năm, PGA = 0,07-0,10 g (đạt mức cực đại, I = VII-MSK-64). Phân chia 7 loại nền A, B, C, D, E, S1, S2 dựa trên mặt cắt thạch học của các lỗ khoan và các thông số như vận tốc truyền sóng ngang Vs, sức không xuyên tiêu chuẩn N30.

 

Bài 12: NGUY HIỂM SÓNG THẦN ĐỐI VỚI BỜ BIỂN VÀ HẢI ĐẢO CỦA VIỆT NAM

MAI XUÂN BÁCH1, CAO ĐÌNH TRỌNG1, VŨ TRỌNG TẤN2

1Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt,
Q. Cầu Giấy, Hà Nội; 2Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Một quốc gia có hàng nghìn kilômét bờ biển như Việt Nam thì việc nghiên cứu, đánh giá dự báo nguy hiểm sóng thần là rất cần thiết. Chương trình mô phỏng lan truyền sóng thần trong môi trường nước nông, được phát triển trên cơ sở hàm Green, đã chuyển giao cho phía Việt Nam trong chương trình hợp tác khoa học giữa Việt Nam - Italy giai đoạn 2006-2008 để áp dụng tính mô phỏng lan truyền sóng thần cho Biển Đông Việt Nam. Các chương trình mô phỏng lan truyền và đánh giá nguy hiểm sóng thần đã được áp dụng cho Việt Nam trước đây, là các chương trình đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Những chương trình này được phát triển từ phương trình Bernoulli chủ yếu được áp dụng cho các vùng biển nước sâu. Trên cơ sở các nguồn tài liệu địa chất, địa vật lý phân tích kết hợp với tài liệu nghiên cứu về động đất và trường ứng suất Coulomb, các tác giả đưa ra 16 đứt gãy sinh chấn trong khu vực nghiên cứu. Động đất Mmax dự báo có thể xảy ra trong khu vực từ 7,0-8,85 độ Richter, lớn nhất là 8,85 tại đới hút chìm Manila. Với động đất lớn hơn 7,0 có thể gây nguy hiểm sóng thần đối với bờ biển và hải đảo Việt Nam; Nếu động đất, sóng thần xảy ra trên đứt gãy Sông Hồng, Sông Lô, Bắc Hoàng Sa, kinh tuyến 110o và Thuận Hải - Minh Hải gây ra sóng thần cao từ 2-5 m cho một số địa phương ven biển; Nếu động đất với M = 8,85 xảy ra tại Manila có thể gây ra sóng thần cao 5-6 m tại khu vực Quảng Ngãi và sóng thần cao 6-7 m ở các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

 

Bài 13: MỐI LIÊN QUAN GIỮA KHOÁNG HÓA THIẾC, WOLFRAM VỚI GRANITOID PHỨC HỆ SA HUỲNH VÀ ANKROET Ở NAM VIỆT NAM

MAI KIM VINH, PHẠM VĂN HƯỜNG, TRẦN NGỌC KHAI, TRẦN DUÂN, NGUYỄN CÔNG CÂU

Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Granitoid phức hệ Sa Huỳnh và Ankroet Nam Việt Nam lần lượt lộ ra chủ yếu ở Quảng Ngãi và đới Đà Lạt. Granitoid phức hệ Sa Huỳnh có thành phần phần thạch học gồm granit biotit, granit hai mica hạt vừa đến lớn, ít hơn là granit hạt nhỏ sáng màu. Đá có cấu tạo khối, kiến trúc dạng porphyr. Về mặt địa hóa, granitoid phức hệ Sa Huỳnh thuộc loạt bão hòa nhôm, có tổ hợp khoáng vật phụ là topaz, zircon, granat, silimanit, casiterit đặc trưng cho kiểu S-granit. Đá thường bị greisen hóa ở phần vòm các khối nhỏ granit và rìa các mạch granit hạt nhỏ. Thành phần khoáng vật chính ở các đới greisen gồm muscovit, felspat kali, thạch anh và khoáng vật phụ là casiterit, topaz đặc trưng cho kiểu greisen giàu nguyên tố F. Trái lại, granit phức hệ Ankroet thuộc loại sáng màu, phân dị cao, thành phần thạch học chủ yếu là granit hạt vừa, kiến trúc dạng porphyr. Đặc điểm địa hóa và các khoáng vật phụ cho thấy chúng thuộc kiểu S-granit. Đá thường bị greisen hóa ở phần vòm các khối granit và tổ hợp khoáng vật phụ trong các đới vòm greisen hóa gồm casiterit, wolframit, tourmalin, chỉ thị cho greisen giàu nguyên tố B. Nghiên cứu đặc điểm của các đới greisen cao F và B trong trường granit giúp cho việc dự báo tiềm năng và tìm kiếm khoáng hóa thiếc, wolfram có hiệu quả hơn.

 

Bài 14: ĐẶC ĐIỂM KHOÁNG HÓA VÀNG KHU VỰC YA HỘI,
TỈNH GIA LAI

TRẦN NGỌC KHAI, ĐỖ NGỌC CHUÂN, MAI KIM VINH, ĐẶNG VĂN RỜI

Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Kết quả điều tra chi tiết cho thấy khoáng hóa vàng tại khu vực Ya Hội trong cấu trúc Paleozoi muộn - Mesozoi sớm và cấu trúc này thể hiện có tiềm năng khoáng hóa vàng thuộc đới kiến trúc-sinh khoáng Kon Tum như các nhà địa chất đã nêu trước đây. Quặng hóa vàng thuộc kiểu khoáng hóa thạch anh - sulfur với hai kiểu khoáng hóa: vàng - thạch anh - pyrit và thạch anh - vàng - sulfur đa kim. Chúng được khống chế trong các đới dập vỡ kiến tạo kéo dài chủ yếu theo phương ĐB-TN. Phần lớn các thân quặng vàng có dạng mạng mạch, chuỗi ổ, duy trì không liên tục theo đường phương, có chiều dày 0,2-1,0 m và chiều dài 100-280 m, góc cắm lớn; hàm lượng Au biến thiên mạnh dao động từ 1,0-5,0 g/t. Kết quả điều tra cho thấy tài nguyên dự báo cấp 334a+334b là 316,4 kg vàng (trong đó cấp 334a là 173,5 kg). Ngoài khoáng hóa vàng, trong khu vực còn có fluorit và xạ (bản chất uran) liên quan đến đá biến đổi nhiệt dịch cạnh mạch thạch anh - sulfur, cũng là đối tượng cần nghiên cứu sáng tỏ hơn để từ đó có thể phát hiện thêm các biểu hiện khoáng hóa vàng, fluorit, xạ trong các diện tích lân cận.

 

Bài 15: TÍNH PHÂN ĐỚI VÀNH NGUYÊN SINH VÀ SỬ DỤNG
SỐ LIỆU TÌM KIẾM ĐỊA HOÁ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ BÓC MÒN CỦA CÁC THÂN QUẶNG TẠI ĐIỂM VÀNG SUỐI BỐN

NGUYỄN CHÍ VŨ1, NGUYỄN THỊ KIỀU OANH2

1Hội Địa chất Thủy văn Tp. HCM; 2Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Tp. HCM

Tóm tắt: Tính phân đới là một trong những đặc tính quan trọng nhất của vành nguyên sinh các nguyên tố chỉ thị quặng được sử dụng để nghiên cứu, đánh giá mức bóc mòn của khu mỏ và tìm ra các thân quặng ẩn. Để nghiên cứu tính phân đới của vành nguyên sinh, có thể sử dụng các đại lượng gồm: Kích thước vành nguyên sinh (L, m); Hàm lượng dị thường trung bình (,%) và hệ số phân đới tương phản (k); Lượng xuất đường thẳng (M, m%) hoặc Lượng xuất diện tích (P, m2%) và hệ số phân đới (ν); Đại lượng tỷ số tổng hoặc tích lượng xuất (Kn) và Hệ số tương quan (r). Trong trường hợp giữa vành phân tán thứ sinh và vành nguyên sinh (quặng gốc) có mối liên quan mật thiết, thì có thể sử dụng số liệu tìm kiếm địa hoá theo vành phân tán thứ sinh để nghiên cứu đánh giá mức bóc mòn và triển vọng của khu mỏ. Kết quả nghiên cứu địa hoá tại điểm vàng Suối Bốn là một ví dụ.

Bài 16: ĐẶC ĐIỂM KHOÁNG HÓA CỦA MỎ VÀNG GỐC
TRÀ NĂNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

NGUYỄN KIM HOÀNG1, NGUYỄN VĂN MÀI2

1 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM, 227 Nguyễn Văn Cừ, Q.5, Tp. Hồ Chí Minh ; 2Liên Đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Cấu trúc địa chất chứa các thân quặng vàng có thành phần thạch học chủ yếu là bột kết, phiến sét xen ít lớp cát kết màu xám, xám đen được xếp vào hệ tầng La Ngà bị uốn nếp với phương của trục nếp uốn là ĐB-TN. Các thân quặng có dạng mạch, dạng giả vỉa, mạng mạch, đới mạch; đôi khi dạng bướu, ổ có thế nằm cắm về Đông Nam hoặc Tây Bắc với góc dốc 45-70o. Khoáng vật quặng 10-15%, chủ yếu là arsenopyrit, pyrit; thứ yếu là galena, sphalerit, chalcopyrit. Vàng tồn tại dưới dạng vàng tự sinh (thế hệ I) và electrum (thế hệ II). Khoáng vật phi quặng phổ biến nhất là thạch anh (> 80%). Quặng có cấu tạo dạng xâm tán, dạng mạch, kiến trúc hạt tự hình, nửa tự hình, tha hình, khung xương và nhũ tương. Vàng trong các thân quặng phân bố rất không đồng đều, có hàm lượng Au thay đổi từ 1-2 g/T đến 40-50 g/T. Khoáng hóa vàng có nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ trung bình đến trung bình - thấp liên quan hoạt động magma xâm nhập Mesozoi muộn. Tiến trình tạo khoáng gồm 3 giai đoạn với 2 tổ hợp cộng sinh khoáng vật chính: 1) thạch anh I - arsenopyrit I - pyrit I - vàng tự sinh (305-250oC; 2) thạch anh II - pyrit II - galena - sphalerit - chalcopyrit - electrum (260-195oC). Khoáng hoá vàng thuộc kiểu mỏ vàng-thạch anh-sulfur dạng mạch với 2 kiểu khoáng: vàng - thạch anh - pyrit - arsenopyrit (chính) và vàng - thạch anh - sulfur đa kim (phụ). So với địa hình hiện tại, mỏ vàng đã bị bóc mòn địa chất và địa hoá quặng đến đới giữa quặng, một số nơi đến phần trên của đới dưới quặng. Như vậy, có thể đánh giá mỏ vàng gốc Trà Năng vẫn còn triển vọng lớn.

 

Bài 17: ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA QUY HOẠCH KHAI THÁC QUẶNG TITAN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN

HOÀNG THỊ THANH THỦY1, MAI KIM VINH2, DƯƠNG THỊ PHƯỢNG QUYÊN3

1 Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Tp. Hồ Chí Minh, 236B Lê Văn Sỹ, Q. Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh; 2 Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh; 3 Viện Môi trường và Tài nguyên, 142 Tô Hiến Thành, Q.10, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Bài báo trình bày bộ tiêu chí về khai thác khoáng sản bền vững do nhóm nghiên cứu đề xuất gồm 5 mục tiêu và 19 tiêu chí, có thể sử dụng để đánh giá tính bền vững của các dự án khai thác khoáng sản trong suốt vòng đời của dự án. Bộ tiêu chí này cũng đã được áp dụng thử nghiệm để đánh giá định lượng tính bền vững của kịch bản khai thác quặng sa khoáng Titan trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, 4 trong số 5 mục tiêu đều được đánh giá có số điểm thay đổi từ (-4) đến (-5) với mức độ ảnh hưởng của từng tiêu chí từ tiêu cực đến rất tiêu cực. Chính vì vậy, hoạt động khai thác quặng titan tuy sẽ mang lại một số hiệu quả kinh tế nhưng đồng thời cũng sẽ tác động tiêu cực nhất định đến môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội. Do đó, quy hoạch khai thác quặng sa khoáng Ti trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận sẽ gặp rất nhiều thách thức và khó khăn để đạt được mục tiêu khai thác khoáng sản bền vững.

 

Bài 18: Quy trình phân tích tuỔi đỒng vỊ U-Pb zircon bẰng LA-ICP-MS

PHẠM TRUNG HIẾU1, NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY2, NGUYỄN THỊ DUNG3, BÙI THẾ VINH4

1Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM, 227 Nguyễn Văn Cừ, Q. 5, Tp. Hồ Chí Minh;

2Tạp chí Địa chất, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội; 3Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Q. Cầu Giấy, Hà Nội; 4Liên đoàn Bản đồ Địa chất
miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Phương pháp đồng vị U-Pb trong nghiên cứu địa hoá đồng vị có tốc độ phát triển nhanh trong những năm gần đây. Thực tế, đồng vị U-Pb trên zircon được các nhà địa chất thế giới ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu cơ bản địa chất và khoáng sản từ những năm 50 của thế kỷ XX để xác định tuổi thành tạo của đá và khoáng vật. Ngày nay, các khoáng vật titanit, monazit và baddeleyit cũng thường được dùng để định tuổi của đá bằng đồng vị U-Pb. Các tỉ số đồng vị U-Pb trong các khoáng vật zircon có thể phân tích bằng nhiều phương pháp khác nhau và đều cho kết quả rất đáng tin cậy. Một trong những phương pháp phân tích không tốn nhiều thời gian cho quá trình chuẩn bị mẫu mà lại cho kết quả có độ chính xác cao đó là phân tích đồng vị U-Pb trên đơn khoáng zircon bằng LA-ICP-MS.

 

Bài 19: MỘT SỐ KẾT QUẢ ỨNG DỤNG HIỆU QUẢ CÁC
PHƯƠNG PHÁP ĐỊA VẬT LÝ TRONG ĐO VẼ LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT VÀ ĐIỀU TRA KHOÁNG SẢN TỶ LỆ 1:50.000 TRÊN PHẦN DIỆN TÍCH ĐẤT LIỀN NAM VIỆT NAM

PHÙNG THẾ LỄ1, NGUYỄN VĂN LƯU2, VŨ TRỌNG TẤN2, NGUYỄN TIẾN HÓA2

1Hội Địa chất Tp. Hồ Chí Minh; 2Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Quận 3, Tp. HCM

Tóm tắt: Cho đến nay, trên phần diện tích đất liền nước ta ở phía nam vĩ tuyến 16o đã có hơn 20 nhóm tờ đo vẽ lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 kết thúc, nộp báo cáo kết quả lưu trữ Nhà nước. Trong tất cả các nhóm tờ này, công tác địa vật lý được sử dụng để giải quyết các nhiệm vụ địa chất, khoáng sản khác nhau và đều mang lại kết quả rõ rệt. Các phương pháp địa vật lý được chọn sử dụng chủ yếu thuộc nhóm phương pháp truyền thống với máy móc thiết bị thu thập số liệu, công nghệ xử lý tài liệu ngày càng tiên tiến, cùng với việc nghiên cứu đưa vào sử dụng một số phương pháp địa vật lý mới và hiện đại trong thời gian gần đây, đã cơ bản đáp ứng các yêu cầu địa chất đặt ra. Bài báo này giới thiệu một số kết quả ứng dụng địa vật lý trong một số nhóm tờ đo vẽ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nói trên, chứng tỏ tính hợp lý và hiệu quả của các tổ hợp phương pháp đươc chọn nghiên cứu.

 

Bài 20: NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH ĐỒNG THỜI CÁC NGUYÊN TỐ Sn, As, Bi, W TRONG ĐẤT ĐÁ, QUẶNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP QUANG PHỔ PHÁT XẠ PLASMA CẢM ỨNG (ICP-OES)

NGUYỄN VĂN ĐỊNH, NGUYỄN THỊ HIỆP, DƯƠNG QUANG NGUYỆT, VŨ MINH THANH

Trung tâm Phân tích Thí nghiệm, Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Phương pháp phân tích quang phổ phát xạ nguyên tử dựa trên nguyên tắc đo cường độ vạch phổ phát xạ của các nguyên tố có trong mẫu nghiên cứu khi bị kích thích bằng nguồn năng lượng cao. Cường độ vạch phổ phụ thuộc vào hàm lượng của các nguyên tố chứa trong mẫu và được ghi lại bằng detector. Dựa trên nguyên tắc này, nghiên cứu các điều kiện tối ưu của thiết bị cũng như các tác nhân ảnh hưởng đến vạch phổ của các nguyên tố W, Sn, As, Bi trong mẫu quặng, đất đá. Từ đó xây dựng đường chuẩn và quy trình cụ thể cho phương pháp xác định W, Sn, As, Bi bằng phương pháp ICP-OES.

 

Bài 21: XÁC ĐỊNH VẬN TỐC TRONG THĂM DÒ ĐIỆN TỪ TẦN SỐ CAO BẰNG THUẬT TOÁN DỊCH CHUYỂN

NGUYỄN THÀNH VẤN1, NGUYỄN VĂN THUẬN1, ĐẶNG HOÀI TRUNG1,

VÕ NGUYỄN NHƯ LIỄU1, VÕ MINH TRIẾT1, NGUYỄN TIẾN HÓA2

1Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM, 227 Nguyễn Văn Cừ, Q.5, Tp. Hồ Chí Minh; 2Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Vận tốc truyền sóng điện từ là thông số quan trọng nhất trong xử lý dữ liệu thăm dò điện từ tần số cao (radar xuyên đất - GPR). Thuật toán dịch chuyển, phụ thuộc nhiều vào đại lượng vận tốc được sử dụng nhằm hội tụ các tín hiệu tán xạ trong miền x-t hoặc không gian ảnh trở về đúng vị trí của chúng. Mục tiêu của bài báo này là trình bày cơ sở lý thuyết, quy trình và cách thực hiện các phương pháp dịch chuyển. Sử dụng các mô hình toán học, các tác giả đã chứng minh sự cần thiết phải có mặt cắt đã dịch chuyển, sự tương đương giữa vận tốc tính được và vận tốc căn quân phương đến đỉnh dị vật. Để tối ưu hóa các thuật toán dịch chuyển, chúng tôi đề nghị sử dụng entropy là tiêu chuẩn để xác định vận tốc truyền sóng điện từ chính xác. Kết quả thực tế chỉ ra rằng mặt cắt sau dịch chuyển với vận tốc đúng có chất lượng tốt nhất, tương ứng với entropy đạt cực tiểu. Nhờ vậy, kích thước cũng như độ sâu của các dị thường được xác định với độ tin cậy cao.  

 

Bài 22: XÁC ĐỊNH VẬN TỐC TRUYỀN SÓNG NGANG VS VÀ CÁC THAM SỐ ĐÀN HỒI CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẤT ĐÁ BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SÓNG MẶT ĐA KÊNH

NGUYỄN NHẬT KIM NGÂN1, NGUYỄN NGỌC THU2, ĐINH QUỐC TUẤN2

1Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM, 227 Nguyễn Văn Cừ, P.4, Tp. Hồ Chí Minh; 2Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Bài báo trình bày phương pháp phân tích sóng mặt đa kênh (phương pháp MASW), là một trong các phương pháp địa chấn không phá hủy, không yêu cầu có lỗ khoan tại khu vực khảo sát, để xác định vận tốc truyền sóng ngang VS và các tham số đàn hồi trong công tác đánh giá nền móng công trình xây dựng. Kết quả đo đạc của phương pháp phân tích sóng mặt đa kênh được trình bày dưới dạng mặt cắt 1D, thể hiện sự thay đổi vận tốc truyền sóng VS theo độ sâu. Kết quả phân tích của phương pháp MASW phù hợp với thành phần thạch học của lỗ khoan tại khu vực khảo sát. Sai số trung bình của giá trị VS theo mỗi mét độ sâu giữa hai phương pháp MASW và down-hole vào khoảng 15,5%.

 

Bài 23: LỰA CHỌN TỔ HỢP PHƯƠNG PHÁP ĐỊA VẬT LÝ HỢP LÝ XÁC ĐỊNH CÁC THÂN QUẶNG MỘT SỐ LOẠI KHOÁNG SẢN KIM LOẠI CÓ NGUỒN GỐC TRẦM TÍCH VÀ PHONG HÓA, KHOÁNG SẢN PHI KIM LOẠI, PHÓNG XẠ VÀ ĐẤT HIẾM TRONG ĐIỀU TRA KHOÁNG SẢN TỶ LỆ 1:50.000 Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

PHÙNG THẾ LỄ 1, VŨ TRỌNG TẤN2

1Hội Địa chất Tp. Hồ Chí Minh; 2Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Ứng dụng địa vật lý để xác định các thân quặng trong công tác điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 chủ yếu trên các diện tích điều tra chi tiết khoáng sản. Trong các diện tích này, đặc điểm của quặng, đá vây quanh bước đầu đã được xác định, do đó, có cơ sở để lựa chọn tổ hợp phương pháp địa vật lý tối ưu tìm kiếm các thân quặng. Các phương pháp địa vật lý trong mỗi tổ hợp được chọn trên cơ sở phân tích nguồn gốc, đặc điểm, hình dáng thân quặng, thành phần quặng và các nguyên tố đi kèm, đá vây quanh để xác định các dị thường địa vật lý trội, đặc trưng cho thân quặng có thể quan sát được trên mặt đất, kết hợp với kết quả xử lý, tổng hợp tài liệu địa vật lý trong các đề án đo vẽ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 trên cả nước và nghiên cứu ứng dụng các phương pháp địa vật lý mới, hiện đại. Bài báo này giới thiệu kết quả lựa chọn các tổ hợp phương pháp địa vật lý hợp lý để xác định thân quặng một số loại khoáng sản kim loại có nguồn gốc trầm tích và phong hóa, khoáng sản phi kim loại, phóng xạ - đất hiếm trong điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000, phù hợp điều kiện sản xuất địa chất ở nước ta hiện nay.

 

TIN ĐỊA CHẤT

Bài 24: PHÁT HIỆN ĐÁ SIÊU MAFIC VÀ KHOÁNG SẢN ĐỒNG QUA KẾT QUẢ ĐO VẼ “LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT VÀ ĐIỀU TRA KHOÁNG SẢN TỶ LỆ 1:50.000 NHÓM TỜ KON PLONG”

TRẦN DUÂN, NGUYỄN HÙNG CƯỜNG, NGUYỄN NĂNG THÀNH

Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Q.3, Tp. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Việc đo vẽ lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Kon Plong trên cao nguyên Tây Nguyên đã phát hiện sự hiện diện các thể đá siêu mafic có thành phần: dunit, peridotit; thành tạo phun trào basalt xen kẹp trầm tích. Đồng thời cũng phát hiện sự có mặt của khoáng sản sulfur-đồng, làm phong phú thêm các dạng tài nguyên khoáng sản ở trong vùng.

 

Lock full review www.8betting.co.uk 888 Bookmaker

Bản quyền thuộc Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.
Địa chỉ: Số 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Tel: (84-4) 38260674. Fax: (84-4) 38254734. Email: webmaster@dgmv.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Tổng Cục Trưởng Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.

External links are provided for reference purposes. The World News II is not responsible for the content of external Internet sites.
Template Design © Joomla Templates | GavickPro. All rights reserved.