• Chủ nhật, 30 Tháng 4 năm 2017
  • Chủ nhật, 30 Tháng 4 năm 2017

Tạp chí địa chất Số 350/3-4/2015

Tạp chí địa chất

Số  350/3-4/2015

 

Bài 1: MỨC ĐỘ NÓNG CHẢY NGUỒN MANTI CỦA CÁC ĐÁ PERIDOTIT VÙNG NÚI NƯA, TỈNH THANH HÓA VÀ
Ý NGHĨA LUẬN GIẢI KIẾN TẠO

NGÔ XUÂN THÀNH1, PHẠM TRUNG HIẾU2, PHẠM NGỌC DŨNG3

1Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Phường Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội; 2Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG TPHCM, Nguyễn Văn Cừ, P.4, Tp. Hồ Chí Minh; 3Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Peridotit vùng Núi Nưa đã được xem là một phần trong tổ hợp ophiolit của đới khâu Sông Mã, hình thành do quá trình va chạm giữa khối Đông Dương và khối Việt-Trung. Thành phần thạch học chủ yếu của khối Núi Nưa gồm dunit, harzburgit và một ít đai mạch gabro-diabas. Nghiên cứu cấu tạo, thành phần khoáng vật và địa hóa của các đá ở đây cho thấy chúng đặc trưng cho đá thuộc manti đã trải qua quá trình nóng chảy từng phần. Mức độ nóng chảy từng phần được tính toán trên cơ sở các số liệu về thành phần khoáng vật, địa hóa nguyên tố hiếm vết của các đá harzburgit trong vùng. Kết quả tính toán chỉ ra rằng nguồn manti của các đá này đã trải qua quá trình nóng chảy từng phần rất cao, đạt từ 20% đến trên 40%. Peridotit vùng Núi Nưa  được hình thành trong bối cảnh trước cung trên cơ sở so sánh thành phần khoáng vật, địa hóa và mức độ nóng chảy nguồn manti với các thể peridotit trong các môi trường kiến tạo khác nhau hiện nay trên thế giới.  Những kết quả mới này cho phép các nhà nghiên cứu có thêm cơ sở để luận giải địa chất, kiến tạo, khoáng sản liên quan cho các nghiên cứu tiếp theo trong vùng.

Bài 2: ĐỒNG VỊ CARBON-OXY TRONG ĐÁ CARBONAT DẠNG ĐAI MẠCH NAM NẬM XE, PHONG THỔ, LAI CHÂU: DẤU HIỆU CỦA MAGMA CARBONATIT

NGUYỄN THỊ THỦY1, HOÀNG HOA THÁM1, LÊ DUY ĐẠT1, HIDEKI WADA2

1Khoa Địa lý - Địa chất, Trường Đại học Khoa học Huế, 77 Nguyễn Huệ, Tp. Huế; 2Trường Đại học Shizuoka, Nhật Bản, Ohya 836, Suruga-ku, Shizuoka, Nhật Bản

Tóm tắt: Các thành tạo carbonat dạng đai mạch Nam Nậm Xe (huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu) thuộc phần Đông Bắc của đới cấu trúc Sông Đà gồm calciocarbonatit hạt thô, calciocarbonatit hạt nhỏ phân phiến và ferrocarbonatit, cắt qua đá vôi hệ tầng Na Vang và basalt hệ tầng Viên Nam. Thành phần khoáng vật gồm calcit, aegirin và biotit tinh thể lớn, arfvedsonit, magnetit, fluorapatit (đá calciocarbonatit hạt thô); calcit hạt nhỏ đến vừa, biotit, arfvedsonit dạng sợi hoặc tỏa tia, pyrit (đá calciocarbonatit hạt nhỏ phân phiến). Khoáng vật phụ chủ yếu gồm monazit, barit, celestin, ancylit, parisit, strontianit và cordylit. Calcit của calciocarbonatit có thành phần đồng vị carbon và oxy tương đối đồng nhất (δ13CV–PDB = -3,10 ~ -3,93‰, δ18OV–SMOW = +9,09 ~ +11,40‰). Mặc dù các giá trị đồng vị này cao hơn so với carbonatit điển hình, nhưng khác hẳn so với các giá trị đồng vị trên calcit của đá vôi màu xám, hạt mịn tuổi Permi hệ tầng Na Vang và đá vôi màu xám xanh tuổi Trias hệ tầng Đồng Giao lận cận trong khu vực. Tổ hợp khoáng vật và các giá trị đồng vị C-O này của đá calciocarbonatit cho thấy sự tồn tại của dung thể magma carbonatit ở khu vực Đông Bắc đới Sông Đà trong giai đoạn Paleogen giữa-muộn.

Bài 3: MÔ HÌNH KIẾN TẠO - SINH KHOÁNG KHU VỰC CHO
HOẠT ĐỘNG MAGMA CAO KALI KAINOZOI VÀ SINH KHOÁNG Cu-Mo-Au ĐỚI TẠO KHOÁNG HABO - Ô QUÝ HỒ, RÌA TÂY NAM ĐỚI TRƯỢT CẮT AILAO SHAN - SÔNG HỒNG

TRẦN MỸ DŨNG

Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội

Tóm tắt: Các hoạt động magma Kainozoi trên đới tạo khoáng Habo - Ô Quý Hồ, rìa tây nam đới trượt cắt Ailao Shan - Sông Hồng, tạo ra các đá magma kiềm cao kali và sinh thành một hệ thống quặng Cu-Mo-Au porphyr-nhiệt dịch nông nhiệt độ thấp. Các đá magma này khá giàu các nguyên tố không tương hợp (Rb, Ba, K, Sr), nghèo nguyên tố trường bền vững cao (Nb, Ta, Ti và P), giá trị (143Nd/144Nd)i thấp (0,512336-0,512450) và (87Sr/86Sr)i khá cao (0,706585-0,707521). Thời gian xảy ra hoạt động magma và tạo khoáng trên đới tạo khoáng Habo - Ô Quý Hồ tập trung trong khoảng 40-32 Tr.n, tương đồng với hoạt động magma cao kali Kainozoi và sinh khoáng liên quan vùng đông Tây Tạng. Điều này chứng tỏ hoạt động magma và tạo khoáng xảy ra trước quá trình dịch trượt bằng trái của đới xiết trượt Ailao Shan - Sông Hồng. Các đá magma  có đặc điểm địa hóa và đồng vị Sr-Nd nêu trên phản ánh sự xuất sinh từ miền nguồn manti giàu hoặc magma bị ảnh hưởng bởi fluid thoát ra từ vỏ đại dương Tethys bị hút chìm.

Bài 4: ĐẶC ĐIỂM PHÁ HỦY KIẾN TẠO VÀ VẬN ĐỘNG
TÂN KIẾN TẠO VÙNG CÔN ĐẢO TRONG KAINOZOI

CHU VĂN NGỢI1, NGUYỄN HỮU TUYÊN2, PHẠM THU HIÊN1

1 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội;  2Viện Địa Vật lý Ứng dụng, Viện HLKH&CNVN, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Vùng Côn Đảo bao gồm 16 đảo lớn nhỏ, trong đó Côn Sơn là đảo lớn nhất. Vùng Côn Đảo là phần nổi cao trên biển của đới nâng Côn Sơn, một cấu trúc đóng vai trò là ranh giới giữa bồn trũng Cửu Long và Nam Côn Sơn. Vùng có cấu trúc hai tầng: tầng móng cấu tạo chủ yếu bởi các đá magma xâm nhập và phun trào có thành phần từ mafic đến acid thuộc các phức hệ Định Quán, Đèo Cả và hệ tầng Đèo Bảo Lộc, Nha Trang; tầng phủ được cấu tạo bởi các thành tạo trầm tích Pliocen - Đệ tứ với bề dày không đáng kể. Do có vị trí kiến tạo đặc biệt, vùng Côn Đảo đã trải qua nhiều pha biến dạng làm cho các thành tạo móng bị dập vỡ và phong hóa mạnh. Trên cơ sở khảo sát thực địa, nghiên cứu phân tích các quan hệ cấu tạo theo không gian và thời gian, xử lý các số liệu thu thập, đã xác lập được 5 pha biến dạng, phân chia vùng Côn Đảo thành 5 khối kiến trúc, các đới dập vỡ và làm rõ đặc điểm chuyển động kiến tạo khối tảng của vùng.

Bài 5: DOLOMIT VÀ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG TRONG SẢN XUẤT VẬT LIỆU XÂY DỰNG KHÔNG NUNG

KIỀU QUÝ NAM1, NGUYỄN ÁNH DƯƠNG1, PHẠM NHƯ SANG2, NGUYỄN THẾ HẬU1

1 Viện Địa chất, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 84 Phố Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội
2 Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Phường Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Dựa trên cơ sở lý thuyết về cấu trúc, thành phần khoáng hóa và dạng tồn tại dưới hai hình thức hạt vụn và khối đặc sít của dolomit các tác giả cho rằng mặc dù dolomit có thể bị ăn mòn trong môi trường kiềm (CaOH)2 nhưng dolomit dạng hạt vụn có khả năng hấp thụ một lượng (CaOH)2 nhất định và kết quả thu được từ thực nghiệm với dolomit dạng hạt vụn khu vực đèo Lũng Lô (Yên Bái) đã chứng minh được điều đó, cho phép các tác giả đi đến kết luận về khả năng sử dụng dolomit dạng hạt vụn để sản xuất vật liệu xây dựng không nung đặc biệt ở các khu vực có sẵn nguyên liệu như tỉnh Hà Nam, Ninh Bình và Yên Bái.

Bài 6: MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA TAI BIẾN ĐỊA CHẤT VÙNG DỌC QUỐC LỘ 7 - SÔNG CẢ, TỈNH NGHỆ AN VÀ VÙNG DỌC QUỐC LỘ 8 - SÔNG NGÀN PHỐ, TỈNH HÀ TĨNH

NGUYỄN TIẾN THÀNH1, LÊ VĂN TOÀN2, NGUYỄN VĂN PHỐ2

1 Liên đoàn Địa chất và Khoáng sản biển, 208 Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội; 2Liên đoàn Địa chất Bắc Trung Bộ, 43 Trần Phú, Tp. Vinh, Nghệ An

Tóm tắt: Hiện nay, Liên đoàn Địa chất Bắc Trung Bộ đang thực hiện đề án "Điều tra, đánh giá ảnh hưởng đến môi trường do các tai biến địa chất vùng dọc Quốc lộ 7 - sông Cả, tỉnh Nghệ An và vùng dọc Quốc lộ 8 - sông Ngàn Phố, tỉnh Hà Tĩnh". Kết quả điều tra đến nay cho thấy vùng nghiên cứu có biểu hiện tai biến địa chất phát sinh nhiều nơi với hơn 549 vị trí trượt lở, 61 vị trí lũ quét và 186 điểm xói lở bờ sông, trong đó một số vị trí quy mô lớn, gây thiệt hại nặng cho cộng đồng. Nguyên nhân chính gây tai biến địa chất là do vùng điều tra có cấu tạo địa hình, địa chất phức tạp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của đứt gãy Sông Cả, Rào Nậy và các hoạt động nhân sinh. Để phòng, tránh và hạn chế tác hại tai biến địa chất, cần nâng cao hơn nữa nhận thức, ý thức phòng tránh tai biến địa chất của cộng đồng, điều chỉnh phân bố dân cư và xây dựng hạ tầng phù hợp đặc điểm tai biến địa chất và áp dụng một số biện pháp công trình.

Bài 7: PHÁT TRIỂN ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC ĐẠC ẢNH ĐỂ TÁI TẠO BỀ MẶT 3 CHIỀU (3D)

PHÍ TRƯỜNG THÀNH1,   NGUYỄN QUỐC PHI2

1Viện Địa chất và Địa vật lý Biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội; 2Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Phường Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Sự ra đời của phương pháp trắc đạc ảnh với những tính năng đa dạng đã giải quyết được các vấn đề phức tạp thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, như việc chụp ảnh lập thể từ máy bay để vẽ đường đồng mức địa hình. Mặc dù phương pháp này có nhiều ưu điểm vượt trội so với các phương pháp truyền thống song việc ứng dụng nó cho những nghiên cứu về địa chất vẫn còn có phần hạn chế. Trong bài báo này, tác giả giới thiệu kết quả thực nghiệm bằng việc sử dụng thuật toán của phương pháp trắc đạc ảnh cho việc tái tạo lại bề mặt của một vật thể dựa trên ảnh số và một số ứng dụng trong việc vẽ lại bề mặt, mặt cắt của bờ dốc theo không gian 3 chiều từ các đề án phân tích ổn định bờ đá trên tuyến đường cao tốc ở Hàn Quốc.

Bài 8: ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO PLIOCEN - ĐỆ TỨ KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG LÔ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN XÓI LỞ BỜ SÔNG

BÙI VĂN THƠM, HOÀNG QUANG VINH, NGUYỄN VIỆT TIẾN, NGUYỄN ĐĂNG MẠNH         

Viện Địa chất, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Phố Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội

Tóm tắt: Trong giai đoạn Pliocen - Đệ tứ, vùng hạ lưu sông Lô, chuyển động kiến tạo mang tính chất khối tảng dạng tuyến theo phương TB-ĐN và gồm có 3 khối kiến trúc lớn, ranh giới giữa chúng là các đứt gãy. Trong đó chủ yếu là các đứt gãy phương TB-ĐN hoạt động mang tính chất trượt bằng phải thuận và chúng kết hợp với các đứt gãy bậc cao phương á kinh tuyến tạo nên các trũng tách giãn cùng phương. Hoạt động kiến tạo có mối quan hệ mật thiết với hoạt động của dòng chảy sông, những đặc trưng hình thái, biến động lòng dẫn và xói lở bờ vùng hạ lưu sông Lô chịu sự chi phối trực tiếp của hoạt động kiến tạo nói trên. Vùng nâng lòng sông thẳng, tạo vách dốc, xâm thực sâu mạnh và ít có tích tụ aluvi, vùng hạ lòng sông uốn khúc mạnh, xâm thực ngang là chính và tích tụ trầm tích aluvi có chiều dày lớn.

Bài 9: ĐỊA CHẤT TRƯỚC KAINOZOI VÙNG ĐẤT LIỀN TÂY NAM BỘ

THÁI BÁ NGỌC 

Đại học Bách Khoa Tp. Hồ Chí Minh, 268 Lý Thường Kiệt, P.14, Q.10, Tp. HCM

Tóm tắt: Do có sự phân bố đá cát kết, đá vôi với các hang động karst và các đá magma bị nứt nẻ tiêu biểu cho các đá chứa quan trọng trong địa chất dầu khí, nên các vùng Tri Tôn (tỉnh An Giang), Hà Tiên và Hòn Đất (tỉnh Kiên Giang) được chọn làm nơi tham quan - thực địa hàng năm của sinh viên Bộ môn Dầu Khí, Khoa Kỹ thuật Địa chất Dầu Khí, Đại học Bách Khoa Tp. Hồ Chí Minh. Trên cơ sở tổng hợp các dữ liệu địa chất sẵn có, tác giả giới thiệu các phân vị địa chất trước Kainozoi có mặt ở các vùng nói trên, bao gồm các trầm tích lục nguyên Devon (hệ tầng Hòn Heo), đá vôi Permi (hệ tầng Hà Tiên), đá núi lửa felsic và các tuf của chúng cùng các trầm tích lục nguyên Trias trung (hệ tầng Hòn Ngang), các trầm tích lục địa Trias thượng - Jura trung1 (hệ tầng Tà Pa) và các đá magma Creta bao gồm các đá núi lửa trung tính (hệ tầng Xa Lôn), đá núi lửa felsic (hệ tầng Nha Trang), các đá xâm nhập granitoid (các phức hệ Định Quán và Đèo Cả).

 

Bài 10: ỨNG DỤNG VIỄN THÁM VÀ HỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG HÌNH THÁI SÔNG, VÍ DỤ TRÊN ĐOẠN SÔNG HỒNG THUỘC ĐỊA PHẬN HÀ NỘI

TRƯƠNG XUÂN LUẬN, ĐỖ THỊ HẰNG

Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Phường Đức Thắng, Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu về biến động đường sông bằng phân tích dữ liệu viễn thám, đối sánh, kiểm định với kết quả quan trắc thực tế và một số bản đồ hiện có (bản đồ địa hình, bản đồ sử dụng đất) trên đoạn sông Hồng thuộc địa phận Hà Nội. Kết quả ghi nhận, hiện tượng xói lở bồi tụ khác nhau theo các năm và các giai đoạn khác nhau trong năm. Giai đoạn 1996-2003, diện tích bồi tụ là 26,3 km2, phân bố dọc hữu ngạn thuộc địa phận huyện Ba Vì, bắc huyện Đan Phượng, bắc huyện Mê Linh, rải rác dọc huyện Đông Anh, khu vực nội thành; diện tích xói lở: 11,7 km2, phát triển dọc bờ sông thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, đối diện huyện Ba Vì, huyện Phúc Thọ và nam huyện Mê Linh. Giai đoạn 2003-2011, diện tích bồi tụ: 11,2 km2, phân bố chủ yếu ở bờ thuộc địa phận tỉnh Vĩnh Phúc, huyện Phúc Thọ và nam huyện Mê Linh; diện tích xói lở: 23,8 km2, diễn ra mạnh mẽ, phân bố rải rác từ huyện Ba Vì đến khu vực nội thành; giai đoạn 2011-2013, quá trình bồi tụ xảy ra yếu, xấp xỉ 0,6 km2; hiện tượng xói lở xảy ra khá mạnh ở tả ngạn thuộc Ba Vì và rải rác tại các huyện Phúc Thọ, Đan Phượng, Thanh Trì với diện tích 14,8 km2.

 

Lock full review www.8betting.co.uk 888 Bookmaker

Bản quyền thuộc Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.
Địa chỉ: Số 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Tel: (84-4) 38260674. Fax: (84-4) 38254734. Email: webmaster@dgmv.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Tổng Cục Trưởng Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.

External links are provided for reference purposes. The World News II is not responsible for the content of external Internet sites.
Template Design © Joomla Templates | GavickPro. All rights reserved.