• Thứ ba, 21 Tháng 11 năm 2017
  • Thứ ba, 21 Tháng 11 năm 2017

Tạp chí địa chất Số 336-337/7-10/2013

Tạp chí địa chất


Số 336-337/7-10/2013

Bài 1. NHỮNG KẾT QUẢ NỔI BẬT TRONG LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA CHẤT - KHOÁNG SẢN TỈ LỆ 1/50.000 (Phần đất liền) - GIAI ĐOẠN 2000 -2012

NGUYỄN THÀNH VẠN1, NGUYỄN XUÂN BAO1, DƯƠNG VĂN CẦU1, TRẦN VĂN MIẾN2, NGUYỄN BÁ MINH2, NGUYỄN ĐÌNH VIÊN3,

PHẠM HUY THÔNG3, VŨ QUANG LÂN3, THÁI QUANG4, MAI KIM VINH4, BÙI THẾ VINH4, ĐÀO NGỌC ĐÌNH4, VŨ TRỌNG TẤN4

1Tổng hội Địa chất Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

2Vụ Địa chất, Tổng cục ĐC và KS, 6 Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

3Liên đoàn BĐĐC miền Bắc, 208 Nguyễn Văn Cừ, Quận Long Biên, Tp Hà Nội.

4Liên đoàn BĐĐC miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Quận 3, Tp Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Trong hơn 10 năm qua (2000-2012) rất nhiều phát hiện mới về địa chất và khoáng sản đã được ghi nhận trên thực tế và đã được các đơn vị lập bản đồ ĐCKS tỷ lệ 1:50.000 tổng hợp, lập nên các bản đồ ĐCKS có nội dung, hình thức phản ánh ngày càng rõ nét, chân thực và khoa học cấu trúc địa chất phần vỏ Trái đất ở phần đất liền Việt Nam, trong đó có nhiều tài liệu đã được công bố ở trong và ngoài nước, góp phần nâng cao vị thế của ngành Địa chất Việt Nam. Bài báo này tổng hợp và khái quát hóa một số kết quả nổi bật do các đơn vị lập bản đồ ĐCKS thực hiện đã được trình bày trong các báo cáo lưu trữ tại Lưu trữ địa chất hoặc đã công bố trong thời gian qua.


Bài 2. TRẦM TÍCH LUẬN HIỆN ĐẠI TRONG PHÂN TÍCH CÁC BỂ KAINOZOI VÙNG BIỂN NƯỚC SÂU VIỆT NAM

TRẦN NGHI1, ĐINH XUÂN THÀNH2, TRẦN THỊ THANH NHÀN2, TRẦN HỮU THÂN1, PHẠM THỊ THU HẰNG1, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO1, NGUYỄN DUY TUẤN1, TRẦN THỊ DUNG2

1Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo, Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội

 2Trường Đại học Khoa học tự Nhiên, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Nghiên cứu trầm tích luận hiện đại trong phân tích các bể Kainozoi Nam Côn Sơn, Phú Khánh, Tư Chính - Vũng Mây, Trường Sa hiện tại đang ở trong vùng nước sâu (500-3000 m) là một hướng tiếp cận hệ thống và quan hệ nhân quả giữa tiến hóa trầm tích theo chu kỳ với sụt lún nhiệt không tách giãn theo chu kỳ:

1/ Theo cấu trúc thẳng đứng, các bể Kainozoi vùng nước sâu có thể chia ra  6 bể thứ cấp tương ứng với 6 phức tập (sequence*):

- Các bể thứ cấp Eocen-Oligocen sớm và Oligocen muộn: sụt lún nhiệt dạng tuyến kiểu địa hào nội lục.

- Các bể thứ cấp Miocen sớm, Miocen giữa, Miocen muộn: sụt lún nhiệt mở rộng có chu kỳ.

- Bể thứ cấp Pliocen - Đệ tứ: sụt lún nhiệt phân dị đơn nghiêng tạo nên thềm và sườn lục địa hiện đại được đặc trưng bởi các thành tạo lục nguyên: carbonat biển nông đến trầm tích lục nguyên, bùn vôi - silic, vụn núi lửa quạt ngầm turbidit biển sâu chân dốc sườn lục địa.

2/ Ranh giới các bể thứ cấp được xác định dựa trên các bề mặt gián đoạn trầm tích do ảnh hưởng của sự thay đổi mực nước biển và các pha kiến tạo nâng trồi bào mòn cắt xén tương đương với ranh giới các phức tập và cũng là ranh giới các chu kỳ trầm tích. Mỗi phức tập có thể chia ra được 3 miền hệ thống theo sự thay đổi mực nước biển: miền hệ thống biển thấp hay biển thoái thấp (LST), miền hệ thống biển tiến (HST) và miền hệ thống biển cao hay biển thoái cao (HST).

3/ Xác định được các công thức tướng đơn và tướng kép theo các miền hệ thống trầm tích là chìa khóa quan trọng để giải thích tại sao tại trung tâm các bể Nam Côn Sơn và Phú Khánh vẫn quan niệm là trầm tích biển sâu nhưng lại có bề dày lớn nhất (10-12 km) có cấu tạo nằm ngang song song đặc trưng cho môi trường biển nông. Điều đó được lý giải môi trường lắng đọng trầm tích luôn luôn có dòng chảy đáy tái vận chuyển và tái phân bố vật liệu trầm tích lục nguyên do sông mang tới. Vì vậy, trong mỗi lớp trầm tích đều chứa phức hệ tướng kép châu thổ và biển xen kẽ nhau: (amr + mr) hoặc (amt + mt).

4/ Phân tích các kiểu biến dạng các bể thứ cấp và phục hồi các mặt cắt trước khi thành lập các bản đồ tướng đá - cổ địa lý theo các miền hệ thống được coi là quy trình cơ bản có tính nguyên tắc trong nghiên cứu trầm tích luận hiện đại. Đó là cơ sở khoa học để xây dựng tiền đề đánh giá hệ thống dầu khí.


Bài 3. MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC BỂ TRẦM TÍCH KAINOZOI TRÊN THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM

TRỊNH XUÂN CƯỜNG, PHAN NGỌC TRUNG, NGUYỄN TRỌNG TÍN, NGUYỄN THANH TÙNG, NGUYỄN THU HUYỀN, NGUYỄN ANH ĐỨC, NGUYỄN THỊ DẬU, NGUYỄN THANH LAM,
LÊ CHI MAI, ĐỖ QUANG ĐỐI, NGUYỄN THẾ HÙNG, NGUYỄN HOÀNG SƠN

Viện Dầu khí Việt Nam, 173 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Trên cơ sở các tài liệu địa chấn, từ và trọng lực mới nhất trên thềm lục địa Việt nam, các bể trầm tích Đệ tam, gồm bể Sông Hồng, Phú Khánh, Hoàng Sa, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Tư Chính - Vũng Mây, Trường Sa và Malay - Thổ Chu đã được xác định một cách rõ ràng. Kết quả nghiên cứu phân tích địa tầng và cấu trúc cho thấy các bể có thể bắt đầu được hình thành trong Paleogen và bị khống chế chủ yếu bởi chuyển động thúc trồi vào Oligocen-Miocen và quá trình tách giãn Biển Đông. Hai yếu tố này tương tác và hỗ trợ lẫn nhau. Chính do các yếu tố địa động lực riêng từng khu vực đã tạo nên các hình dạng khác nhau của các bể trầm tích Đệ tam Đông Việt Nam. Các trầm tích tuổi Eocen-Oligocen hình thành gần nguồn lắng đọng trong môi trường chủ yếu là đồng bằng châu thổ và đầm hồ, đóng vai trò tầng sinh dầu khí quan trọng. Các trầm tích tuổi Miocen và trẻ hơn có môi trường trầm tích thay đổi từ đồng bằng châu thổ ở phía Tây sang chịu ảnh hưởng của biển nông tới biển sâu ở phía Đông. Hệ thống dầu khí của các bể trầm tích, các vùng đã được chính xác hóa bằng các tài liệu mới có chất lượng cao với việc áp dụng công nghệ và phương pháp nghiên cứu tiên tiến đã cho ra các kết quả và các loại bản đồ bảo đảm đủ độ tin cậy trong nghiên cứu phân vùng triển vọng và đánh giá tiềm năng dầu khí đáp ứng được yêu cầu quy hoạch và quản lý tài nguyên, môi trường biển trong những năm trước mắt và lâu dài.


Bài 4. CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT VÀ PHÂN VÙNG KIẾN TẠO KHU VỰC NƯỚC SÂU VÙNG BIỂN VIỆT NAM

NGUYỄN TRỌNG TÍN1, NGUYỄN THẾ HÙNG1, NGUYỄN VĂN PHÒNG1, TRẦN HẢI NAM1, NGUYỄN VĂN VƯỢNG2, PHÙNG VĂN PHÁCH3, TRẦN TUẤN DŨNG3

1Viện Dầu khí Việt Nam, 173 Trung Kính, Cầu Giấy, Hà Nội

2Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

3Viện Địa chất và Địa vật lý Biển, Viện Hàn lâm KH&CN VN, Hoàng Quốc Việt,
Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Lịch sử hình thành và tiến hoá Biển Đông đã được nhiều nhà địa chất nước ngoài (Tapponnier và nnk, 1986, 1990; Taylor B., và nnk, 1983; Morley C.K., 2001, 2002; Hall R., 1996, 2002, 2004; Hutchison C.S., 2004; …) và trong nước (Lê Duy Bách, Trần Văn Trị, Bùi Công Quế, Cao Đình Triều, Phan Trường Thị, Nguyễn Biểu, Mai Thanh Tân, Phan Trọng Trịnh, Ngô Thường San, Hồ Đắc Hoài, Nguyễn Giao, Trần Lê Đông) trình bày trong các công trình nghiên cứu khác nhau. Nhìn chung, các quan điểm đều tích hợp vào hai sự kiện địa chất chủ đạo: quá trình va chạm lục địa Ấn Độ và lục địa Âu-Á đã đẩy khối lục địa Âu-Á trượt về phía Đông Nam theo các hệ thống đứt gãy: đứt gãy Ba Chùa (Three Pagoda), đứt gãy Sông Mê Kông (Maeping), đứt gãy kinh tuyến 1090, đứt gãy Sông Hồng, đứt gãy Sông Châu Giang, đứt gãy Sông Dương Tử và quá trình tách giãn Biển Đông cùng với sự tiêu biến phần rìa lục địa Châu Á trong đới hút chìm Borneo - Palawan. Hệ quả của các vận động trôi trượt, hút chìm, va chạm đã tạo nên hàng loạt các bể trầm tích Kainozoi ở Biển Đông theo hai kiểu chính: bể tách giãn (rift basin): Cửu Long, Nam Côn Sơn, Phú Khánh, Tư Chính - Vũng Mây, nhóm bể Trường Sa, Hoàng Sa và bể kéo trượt (pull-apart basin): Sông Hồng, Malay - Thổ Chu.

Kết quả xử lý, minh giải tài liệu địa chấn mới thu nổ trong những năm gần đây, kết hợp với tài liệu từ, trọng lực và địa chất đáy biển, lần đầu tiên đã cho phép vạch định và phân chia các bể trầm tích, đánh giá vai trò hoạt động và phân loại đứt gãy, xác định lịch sử phát triển kiến tạo của các đơn vị cấu tạo khác nhau trong khu vực nghiên cứu làm tiền đề đánh giá tiềm năng và triển vọng khoáng sản ở Biển Đông Việt Nam.

Bài 5. NGHIÊN CỨU ĐỊA ĐỘNG LỰC VÀ THÀNH LẬP CÁC BẢN ĐỒ ĐỊA ĐỘNG LỰC VÙNG BIỂN VIỆT NAM

LÊ DUY BÁCH1, NGÔ GIA THẮNG1, CAO ĐINH TRIỀU2, ĐỖ VĂN LĨNH3

1Tổng hội Địa chất Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội

2Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

3Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam, 200 Lý Chính Thắng, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt:  Theo các khái niệm phổ biến hiện nay thì địa động lực là khoa học nghiên cứu các quá trình hình thành và phát triển hành tinh, các lực tác động xuất hiện trong các quá trình ấy trên bước đường tiến hóa Trái đất, các quyển và các xecment của nó. Khoa học địa động lực hiện đại là thành tựu - sản phẩm mới nảy sinh do sự tổng hòa của kiến tạo và địa vật lý. Nội dung chủ yếu của nghiên cứu địa động lực thạch quyển là phát hiện và làm sáng tỏ đặc điểm các quá trình nội động lực và quy luật biểu hiện vật chất, kiến trúc, trường lực - năng lượng của chúng trong tiến trình lịch sử hình thành và tiến hóa của thạch quyển và các tổ phần của nó trong mối quan hệ nhân quả với địa động lực của các quyển khác nói riêng và của cả hành tinh Trái đất nói chung.

Biển Đông Việt Nam là một tổ hợp kiến trúc - địa động lực phức tạp và là một mô hình đặc biệt của hệ thống biển rìa Tây Thái Bình Dương hiện đại. Nghiên cứu địa động lực ở đây gồm các nội dung chính là: 1/ Địa động lực quá trình tách giãn và tạo bồn; 2/ Địa động lực quá trình hội tụ và tạo núi; 3/ Địa động lực quá trình magma; 4/ Địa động lực hiện đại: 5/ Lịch sử tiến hóa địa động lực; 6/ Phân vùng địa động lực. Lập các bản đồ địa động lực là một trong những phương thức quan trọng để thể hiện những kết quả nghiên cứu các nội dung vừa nêu.

 Báo cáo tập trung trình bày những thành tựu nghiên cứu địa động lực vùng biển Việt Nam, các kiểu bản đồ đã được thành lập và đưa ra một mô hình nguyên tắc để lựa chọn về bản đồ địa động lực tổng hợp của vùng biển Việt Nam.


Bài 6. ĐỐI SÁNH ĐỊA TẦNG TUỔI LADIN (T2l) TÂY BẮC BỘ VIỆT NAM

TRẦN ĐĂNG TUYẾT1, TRẦN ĐĂNG HÙNG2

1Hội Địa chất Như Quỳnh

2Công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí Nước ngoài (PVEP Overseas)

Tóm tắt: Địa tầng tuổi Ladin (T2l) Tây Bắc Bộ Việt Nam kết nối với nhau hợp tạo nên thành tạo trầm tích lục nguyên xen carbonat, chứa hóa thạch hai mảnh vỏ tuổi Ladin sớm (T2l1) nằm chỉnh hợp lên trên trầm tích carbonat tuổi Anisi và bị phủ không chỉnh hợp bởi các thành tạo phun trào mafic, lục nguyên, carbonat. Các thành tạo phun trào mafic, lục nguyên, carbonat, chứa hóa thạch hai mảnh vỏ tuổi Ladin (Ladin muộn, T2l2), nằm phủ không chỉnh hợp lên trên các trầm tích tuổi cổ hơn và chuyển tiếp bên dưới trầm tích lục nguyên tuổi Carni. Các đặc điểm về mặt cắt thạch học, quan hệ địa tầng, hóa thạch đặc trưng tuổi Ladin, cho thấy tồn tại một bất chỉnh hợp địa tầng giữa kỳ Ladin ở khu vực Tây Bắc Bộ Việt Nam.


Bài 7. TIỀM NĂNG MỘT SỐ KHOÁNG SẢN RẮN CÓ QUY MÔ LỚN CỦA VIỆT NAM

ĐỖ CẢNH DƯƠNG, TRẦN VĂN MIẾN

Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, Số 6, Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Tóm tắt: Gần 70 năm qua, Ngành Địa chất Việt Nam đã thực hiện một khối lượng rất lớn về nghiên cứu, điều tra cơ bản về địa chất, tìm kiếm, thăm dò khoáng sản. Gần 5000 điểm khoáng, tụ khoáng đã được phát hiện, trong đó một số loại có tổng tài nguyên lớn như bauxit ~ 10 tỷ T, titan ~ 650 tr.T, than ~ 48 tỷ T, đất hiếm ~ 17 tr.T, apatit ~ 2,1 tỷ T, cát silic ~ 123 tr.T, đá vôi xi măng ~ 7,7 tỷ T, đá hoa trắng ~ 1,17 tỷ T.


Bài 8. MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA MỚI VỀ QUẶNG MAGNESIT VÙNG KON QUENG, GIA LAI

NGÔ VĂN MINH1, ĐỖ VĂN NHUẬN2, ĐƯỜNG KHÁNH3, NGUYỄN QUANG MẠNH4

1Cục Kinh tế Địa chất và Khoáng sản, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội;

2Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội;

3Liên đoàn Vật lý Địa chất, Thanh Xuân, Hà Nội;

4Công ty CP Tập đoàn Thái Dương, 33 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội

Tóm tắt: Quặng magnesit (MgCO3) đã được phát hiện tại vùng Kon Queng từ những năm đầu tiên của thế kỷ 21. Từ đó đến nay, đã có nhiều đề án, đề tài và công trình nghiên cứu được công bố. Đặc biệt trong thời gian gần đây, các báo cáo kết quả thăm dò và các đề án điều tra đánh giá khoáng sản thực hiện ở khu vực này đã làm sáng tỏ hơn về quy mô, hình thái thân quặng, quy luật phân bố, thành phần vật chất, nguồn gốc cũng như xác lập bối cảnh kiến tạo hình thành nên vùng quặng magnesit có quy mô lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Bài báo này giới thiệu những kết quả điều tra mới nhất về quặng magnesit vùng Kon Queng, Gia Lai.


Bài 9. THAN MỠ Ở TÂY BẮC VIỆT NAM VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO THAN CỐC TỪ THAN MỠ MỎ MƯỜNG LỰM

PHỐI LIỆU VỚI THAN GẦY HÒA BÌNH VÀ THAN BÙN HÀ NỘI

TRẦN KIM PHƯỢNG1, LÊ HUY DU2, VŨ ĐÌNH PHUNG3

1 Tổng hội Địa chất Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội

2 Viện Hóa học và Môi trường Quân sự, Bộ Quốc phòng,
Đường  Lạc Long Quân, quận Tây Hồ, Hà Nội

3 Công ty cổ phần PCCC và Đầu tư xây dựng Sông Đà,
Tổng công ty Sông Đà, G1, Thanh Xuân Nam, Hà Nội

Tóm tắt: Bài báo đánh giá tổng quát tiềm năng than mỡ ở Tây Bắc Việt Nam và  giới thiệu kết quả khảo sát đánh giá gần đây than mỡ ở Sơn La, than gầy ở Hòa Bình và than bùn ở Hà Nội. Mỏ than mỡ Mường Lựm ở huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, trữ lượng hơn 1,5 triệu tấn có thể coi là mỏ có chất lượng tốt nhất ở nước ta để sản xuất than cốc. Than có độ tro thấp, hàm lượng chất bốc cao và chỉ số dẻo cao, hoàn toàn đáp ứng yêu cầu sản xuất than cốc luyện kim.

Than mỡ Sơn La đã được nghiên cứu chế tạo thành công than cốc. Ngoài ra, sử dụng than mỡ Sơn La phối liệu với than gầy Hòa Bình và than bùn Hà Nội  cũng đã chế tạo được than cốc đạt chất lượng than cốc luyện kim, mở ra triển vọng huy động các nguồn than biến chất trung bình phân bố rải rác ở các địa phương ở Tây Bắc vào sản xuất than cốc quy mô lớn.

Để sớm ứng dụng kết quả nghiên cứu này vào sản xuất, nhằm tháo gỡ khó khăn cho các xí nghiệp sản xuất than cốc trong nước, do phải  phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, các tác giả đề nghị cho triển khai Dự án“Nghiên cứu - Triển khai (R-D0” quy mô bán công nghiệp.

Bài 10. TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT LÃNH THỔ VIỆT NAM

PHẠM QUÝ NHÂN1, ĐOÀN VĂN CÁNH2, VÕ CÔNG NGHIỆP2, ĐỖ TIẾN HÙNG2

1Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Thị Trấn Cầu Diễn, Từ Liêm, Hà Nội

 2Hội Địa chất thuỷ văn Việt Nam

Tóm tắt: Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiềm năng nước dưới đất Việt Nam, tuy nhiên các nghiên cứu trước đây cũng mới đánh giá cho một vùng miền nào đó (Vũ Ngọc Kỷ và nnk, 1998) hoặc cũng chưa tập hợp được đầy đủ các điều tra, nghiên cứu cho đến nay để đánh giá một cách toàn diện nhất về tiềm năng tài nguyên quý giá này (Văn phòng Hội đồng Quốc gia về Tài nguyên nước, 2008). Bài báo đề cập đến các nghiên cứu trước đây và mới nhất của tác giả về tiềm năng tài nguyên nước dưới đất lãnh thổ Việt Nam. Trữ lượng tiềm năng nước dưới đất lãnh thổ Việt Nam mới nhất được đánh giá là số liệu tin cậy và phục vụ cho các mục đích khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên nước.   

Bài 11. MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN HOẠT ĐỘNG KHOÁNG SẢN VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC

PHẠM ĐÌNH THỌ

Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, Số 6 Phạm Ngũ Lão, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Tóm tắt: Việt Nam là nước có tiềm năng khoáng sản to lớn và đa dạng. Biến đổi khí hậu kèm theo mực nước biển dâng có ảnh hưởng lớn đến nguồn tài nguyên khoáng sản, nhất là đối với các loại khoáng sản phân bố ven biển. Trong quá trình khai thác khoáng sản làm gia tăng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến môi trường xung quanh. Đây là một thách thức lớn của các nhà hoạt động khoáng sản, đồng thời là cơ hội để ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến tiến trong hoạt động khoáng sản ở Việt Nam.


Bài 12. KỲ QUAN ĐỊA MẠO - ĐỊA CHẤT BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

 LÊ ĐỨC AN1, TRẦN ĐỨC THẠNH2, NGUYỄN HỮU CỬ2

1Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

2Viện TN&MT Biển, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Nghiên cứu kỳ quan địa mạo - địa chất biển đảo Việt Nam dựa trên khái niệm của các tổ chức NOWF và UNESCO. Các kỳ quan được bước đầu kiểm kê theo không gian phân bố, gồm: dải ven biển, dải chuyển tiếp lục địa -biển, dải biển nông ven bờ, và vùng biển khơi xa; chúng cũng được sơ bộ phân hạng thành 3 cấp: quốc tế, quốc gia và địa phương. Ở đới bờ (gồm 3 dải không gian đầu) có 88 kỳ quan địa mạo - địa chất, trong đó có 17 kỳ quan cấp quốc tế; đó là các bán đảo, bờ biển, cồn đụn cát, vũng vịnh, đầm phá, đảo và quần đảo ven bờ. Vùng biển khơi xa có đến 102 kỳ quan, trong đó có 61 kỳ quan cấp quốc tế, tạo nên 2 đại kỳ quan thế giới là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa; đó là những đảo, quần đảo, cao nguyên san hô với những atoll và rạn san hô mặt bàn dạng tháp. Với tư cách là những kỳ quan đại diện, bán đảo Hải Vân - bãi Lăng Cô - đảo Sơn Trà (Di sản thiên nhiên thế giới), vùng cửa sông Ba Lạt (Danh thắng địa chất thế giới), đảo Lý Sơn (Danh thắng địa chất quốc gia-quốc tế), đảo Nam Yết và atoll Nam Yết - Sơn Ca (Danh thắng địa chất thế giới) đã được mô tả tóm tắt.  


Bài 13. NGHIÊN CỨU DI SẢN ĐỊA CHẤT VỚI QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

LA THẾ PHÚC 1 , PHẠM KIM TUYẾN 1, LƯƠNG THỊ TUẤT 2, VÕ TIẾN DŨNG 3

1Bảo tàng Địa chất, Số 6 Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội

2Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Km+9, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

3Công ty TNHH Khai thác Chế biến Khoáng sản Núi Pháo,

Tóm tắt: Điều tra và nghiên cứu di sản địa chất theo hướng bảo vệ, bảo tồn, quản lý và khai thác hợp lý di sản địa chất nhằm phát triển bền vững kinh tế - xã hội là lĩnh vực khá mới ở Việt Nam. Các nhà địa chất Việt Nam đã thực hiện khá tốt hướng nghiên cứu mới này và đã gặt hái được nhiều thành công rất đáng khích lệ. Nhiều khu di sản địa chất có giá trị nổi bật đã được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, Công viên địa chất toàn cầu. Hiện nay, vấn đề khai thác khoáng sản ở Việt Nam đang được phát triển mạnh mẽ, kéo theo nhiều hệ luỵ về tài nguyên môi trường. Vấn đề bãi thải, hoàn nguyên các moong khai thác sau khi khai thác và đóng cửa mỏ là những vấn đề hết sức quan trọng, cần phải được quy hoạch ngay từ đầu của quá trình khai thác. Thực tiễn đòi hỏi cần phải có tư duy “xây dựng di sản địa chất” trong quy hoạch khai thác khoáng sản. Mỗi một mỏ hay một khu mỏ cần được quy hoạch sau khi ngừng khai thác khoáng sản để trở thành một điểm di sản địa chất hay một khu di sản địa chất để tiếp tục khai thác di sản địa chất, cho phát triển bền vững kinh tế - xã hội. Bài báo sẽ giới thiệu vai trò và thực trạng ứng dụng nghiên cứu di sản địa chất với quy hoạch phát triển bền vững ở nước ta.


Bài 14. TAI BIẾN ĐỊA CHẤN LƯU VỰC SÔNG CẢ - RÀO NẬY

LÊ VĂN DŨNG, CAO ĐÌNH TRIỀU, BÙI ANH NAM, PHẠM NAM HƯNG,

MAI XUÂN BÁCH, THÁI ANH TUẤN, CAO ĐÌNH TRỌNG

 Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm KH & CN Việt Nam, Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt : Trong khuôn khổ báo cáo này các tác giả sử dụng tiếp cận tất định mới nghiên cứu tai biến địa chấn lưu vực Sông Cả - Rào Nậy. Kết quả nghiên cứu cho thấy:

1/  Động đất quan sát được trong phạm vi lưu vực Sông Cả - Rào Nậy đến hết năm 2012 có cấp độ mạnh, đạt 6,0. Tuy vậy, khu vực nghiên cứu được dự báo là có thể có nguy cơ phát sinh động đất có cấp độ mạnh 6,5-7,0 dọc theo các đới phát sinh: Điện Biên - Sầm Nưa - Thường Xuân, Sông Cả, Rào Nậy,  Nậm Nơn, Nậm Chou, Quỳ Hợp, Sầm Nưa - Thái Hòa, Nghi Sơn và Thanh Chương - Kỳ Anh.

2/ Với kết quả tính từ danh mục động đất: Giá trị dịch chuyển ngang (Dmax) và gia tốc (Amax) ở khu vực Tương Dương tương ứng đạt Dmax = 0,18÷0,24 cm,
Amax = 8÷10 cm/s2; ở các vùng TP. Vinh, Diễn Châu, Yên Thành Dmax = 0,18÷0,27 cm, Amax = 10÷13 cm/s2.

3/ Với kết quả tính dự báo: giá trị dịch chuyển ngang đạt lớn nhất (Dmax) nằm trong giới hạn 5÷12 cm, gia tốc cực đại (Amax) đạt 120÷280cm/s2.


Bài 15. PHÁT HIỆN TÍNH NĂNG MỚI CỦA NƯỚC KHOÁNG NÓNG THANH THỦY

LÊ TỨ HẢI, HOÀNG HIỀN

Liên hiệp Khoa học Địa chất nước khoáng

Bài 16. VIỆT NAM THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH AERONET

NGUYỄN XUÂN SƠN

Giám đốc Trung tâm Tư vấn và Chuyển giao Công nghệ Vật lý - Địa chất







Lock full review www.8betting.co.uk 888 Bookmaker

Bản quyền thuộc Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.
Địa chỉ: Số 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Tel: (84-4) 38260674. Fax: (84-4) 38254734. Email: webmaster@dgmv.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Tổng Cục Trưởng Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.

External links are provided for reference purposes. The World News II is not responsible for the content of external Internet sites.
Template Design © Joomla Templates | GavickPro. All rights reserved.