• Thứ ba, 22 Tháng 8 năm 2017
  • Thứ ba, 22 Tháng 8 năm 2017

Tạp chí địa chất Số 334/3-4/2013

 Tạp chí địa chất


Số 334/3-4/2013

 Bài 1. NHỮNG LUẬN GIẢI MỚI VỀ THÀNH PHẦN KHOÁNG VẬT CỦA CÁC KHỐI SERPENTINIT THUỘC ĐỚI KHÂU SÔNG MÃ TRONG VÙNG SƠN LA: KIỂU OPHIOLIT KHÔNG THUỘC VỎ ĐẠI DƯƠNG THỰC THỤ

NGÔ XUÂN THÀNH1, MAI TRỌNG TÚ2

1Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

2Tổng cục Địa chất và Khoáng sản, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội

Tóm tắt: Các đá serpentinit ở vùng khu vực Sơn La là một phần của các khối đá siêu mafic nằm dọc đới khâu Sông Mã. Các thể serpentinit này đã được nhiều tác giả cho là một phần của tổ hợp ophiolit hình thành do sự va chạm giữa các mảng Đông Dương và Nam Trung Hoa. Các mẫu đá ở đây có đặc điểm là bị serpentinit hóa và bị biến dạng mạnh mẽ. Các khoáng vật chromit sót lại trong đá thường xuất hiện ở dạng hạt lớn kéo dài, thành phần của chúng được phân tích và sử dụng để luận giải môi trường kiến tạo của chúng. Kết quả phân tích thành phần chromit cho thấy chúng có chỉ số Cr# trung bình, Mg# khá cao (lần lượt là 0,43-0,48 và 0,61-0,70), chỉ số Fe3+# và Fe2+/Fe3+ thấp (lần lượt là 0,018-0,040 và 6,52-14,24), hàm lượng TiO2 thấp (< 0,12 wt%). Olivin có chỉ số Mg# cao. Đặc trưng thành phần và cấu tạo này cho thấy các thể serpentinit ở vùng Sơn La thuộc đới khâu Sông Mã thuộc phần manti trong tổ hợp ophiolit và chúng hình thành trong môi trường liên quan đến đới hút chìm (SSZ) hơn là trong môi trường sống núi giữa đại dương (MOR).


Bài 2. TUỔI ĐỒNG VỊ U-Pb ZIRCON CỦA GRANIT KHỐI NÚI PHÁO, VÙNG TAM ĐẢO VÀ Ý NGHĨA ĐỊA CHẤT CỦA NÓ         

NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY1, PHẠM VĂN CHUNG2

1Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Thanh Xuân, Hà Nội;                                                                   

 2Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Khối granit Núi Pháo thuộc phức hệ Núi Điệng, phân bố ở vùng Tam Đảo, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Thành phần thạch học của chúng thuộc loại granit hai mica, hạt vừa đến lớn. Đá khá sáng màu và có kiến trúc dạng porphyr. Trước kia, tuổi của khối granit này được xác định dựa trên quan hệ địa chất với các thực thể đá vây quanh là Trias giữa-muộn. Để làm sáng tỏ và chính xác hóa tuổi thành tạo của khối Núi Pháo và ý nghĩa về lịch sử phát triển địa chất vùng nghiên cứu, zircon tách từ granit khối Núi Pháo được phân tích đồng vị U-Pb trên máy LA-ICPMS  và cho tuổi kết tinh của granit này là 248+/-9.9 Tr.n. Kết qủa tuổi này chỉ ra sự tồn tại sự kiện nhiệt kiến tạo Indosini trong vùng nghiên cứu. Các giá trị tuổi cổ 840 tr.n và 447 Tr.n cũng có mặt trong mẫu phân tích, chứng tỏ vỏ lục địa vùng nghiên cứu có cả thành phần vật chất tuổi Neoproterozoi và Paleozoi sớm.     


Bài 3. TUỔI HÌNH THÀNH VÀ Ý NGHĨA KIẾN TẠO CỦA GRANIT KHỐI PIA OẮC, NGUYÊN BÌNH, CAO BẰNG

TRẦN MỸ DŨNG1, NGUYỄN TUẤN ANH1, VŨ THỊ HIỀN1, LÝ QUỐC SỰ2

1Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

2Tập đoàn Hòa Phát, 39 Nguyễn Đình Chiểu, Phường Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Tóm tắt: Kết quả tuổi SIMS U-Pb zircon cho granit hai mica dạng porphyry, dạng đá chủ yếu cấu thành khối granit Pia Oắc là 93,9±3 Tr.n, tỷ lệ 87Sr/86Sr ban đầu là 0,749±0,027, eNd(t) biến thiên trong khoáng -10,71 đến -10,42. Kết quả này cho thấy các thành tạo granit Pia Oắc liên quan đến hoạt động tạo núi Yanshan (Yến Sơn) trong Mesozoi muộn, cùng thời kỳ thành tạo với các đá granit liên quan đến quặng hóa thiếc - wolfram phân bố rộng rãi ở khu vực Đông Nam Trung Quốc. Granit khối Pia Oắc thuộc về kiểu magma nguồn vỏ, có thể là sản phẩm nóng chảy từng phần của vỏ lục địa Proterozoi.


Bài 4.TIẾN HÓA TRẦM TÍCH KAINOZOI BỂ PHÚ KHÁNH TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI HOẠT ĐỘNG KIẾN TẠO

TRẦN NGHI, TRẦN HỮU THÂN, CHU VĂN NGỢI, ĐINH XUÂN THÀNH, TRẦN THỊ THANH NHÀN, NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG, NGUYỄN DUY TUẤN, NGUYỄN VĂN KIỂU, TRẦN THỊ DUNG, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO,  PHẠM THỊ THU HẰNG, TRẦN VĂN SƠN

Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội

Tóm tắt: Trầm tích bể Phú Khánh nằm trên thềm lục địa Việt Nam nguyên là bể có dạng á đối xứng nằm trên thềm lục địa, song vì trải qua một quá trình biến dạng và sụt lún nên đã tạo nên những cấu trúc khối tảng bất đối xứng. Các bể trầm tích thứ cấp bị biến dạng do quá trình đứt gãy, nén ép và hoạt động núi lửa.

Dựa trên các trường sóng địa chấn đồng pha và phân tích tướng trầm tích theo không gian và thời gian có thể phân chia ranh giới các phức tập (sequence) và các miền hệ thống.

Từ Oligocen đến Đệ tứ mặt cắt địa chất trầm tích có 6 chu kỳ trầm tích tương ứng với 6 phức tập: Oligocen sớm, Oligocen muộn, Miocen sớm, Miocen giữa, Miocen muộn và Pliocen - Đệ tứ.

Mỗi phức tập tương ứng với một bể trầm tích thứ cấp được hình thành do một pha kiến tạo hoặc một chu kỳ thay đổi mực nước biển (MNB), trong đó có 3 miền hệ thống: biển thấp (LST), biển tiến (TST) và biển cao (HST). Mỗi miền hệ thống trầm tích được xác định nhờ phân tích tướng và môi trường trầm tích.


Bài 5. TUỔI HÌNH THÀNH VÀ Ý NGHĨA KIẾN TẠO CỦA GRANIT KHỐI PIA OẮC, NGUYÊN BÌNH, CAO BẰNG

TRẦN MỸ DŨNG1, NGUYỄN TUẤN ANH1, VŨ THỊ HIỀN1, LÝ QUỐC SỰ2

1Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

2Tập đoàn Hòa Phát, 39 Nguyễn Đình Chiểu, Phường Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Tóm tắt: Kết quả tuổi SIMS U-Pb zircon cho granit hai mica dạng porphyry, dạng đá chủ yếu cấu thành khối granit Pia Oắc là 93,9±3 Tr.n, tỷ lệ 87Sr/86Sr ban đầu là 0,749±0,027, eNd(t) biến thiên trong khoáng -10,71 đến -10,42. Kết quả này cho thấy các thành tạo granit Pia Oắc liên quan đến hoạt động tạo núi Yanshan (Yến Sơn) trong Mesozoi muộn, cùng thời kỳ thành tạo với các đá granit liên quan đến quặng hóa thiếc - wolfram phân bố rộng rãi ở khu vực Đông Nam Trung Quốc. Granit khối Pia Oắc thuộc về kiểu magma nguồn vỏ, có thể là sản phẩm nóng chảy từng phần của vỏ lục địa Proterozoi.


Bài 6. ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ TRIỂN VỌNG CÁC KIỂU
KHOÁNG HOÁ VÀNG GỐC VÙNG MẪU SƠN - LỘC BÌNH, LẠNG SƠN

NGUYỄN PHƯƠNG1, NGUYỄN THỊ THU HẰNG1,
ĐỖ VĂN THANH2,  PHẠM ĐÌNH TRƯỞNG2

1Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội;
 2Liên Đoàn BĐĐC Miền Bắc, Long Biên, Hà Nội

Tóm tắt: Bài báo giới thiệu một số kết quả nghiên cứu về các kiểu khoáng hoá và các yếu tố khống chế quặng vàng gốc ở vùng Mẫu Sơn - Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy quặng vàng vùng Mẫu Sơn có những đặc điểm riêng biệt, có thể phân thành ba kiểu khoáng:1/ Thạch anh - sulfur-vàng; 2/ Thạch anh- vàng; 3/ Mũ sắt chứa vàng.

Ba kiểu khoáng hóa trên đều phân bố chủ yếu trong các thành tạo lục nguyên hạt thô của hệ tầng Nà Khuất và hệ tầng Mẫu Sơn, thuộc cấu trúc nếp lồi Mẫu Sơn và nếp lồi Nhượng Bạn. Trong đó kiểu thạch anh-sulfur-vàng phân bố tập trung ở phần nhân của các cấu trúc nếp lồi và đây là kiểu khoáng vàng có triển vọng nhất trong khu vực. Kiểu thạch anh-vàng phân bố ở hai cánh các nếp lồi này, song các thân quặng thường có kích thước không lớn, hàm lượng không cao, nhưng vàng thuộc loại khá tinh khiết và phân bố trên diện tích khá lớn; kiểu mũ sắt chứa vàng có quy mô không lớn, nhưng hàm lượng Au khá cao và điều kiện khai thác khá thuận lợi, cũng là đối tượng cần quan tâm.


Bài 7. NGHIÊN CỨU NHIỄM MẶN NƯỚC DƯỚI ĐẤT TRONG TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRƯỜNG CHUYỂN

HOÀNG VĂN HOAN1, PHẠM QUÝ NHÂN2, FLEMMING LARSEN3,
ANDERS V. CHRISTIANSEN3, KIỀU DUY THÔNG1, TRẦN VŨ LONG1

1Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

2Trung tâm Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước, 93/95, Vũ Xuân Thiều, Sài Đồng,
 Long Biên, Hà Nội,
3Cục Địa chất Đan Mạch (GEUS), 1350 Copenhagen K, Denmark.

Tóm tắt: Việc sử dụng phương pháp trường chuyển (transient electromagnetic - TEM), kết hợp phân tầng địa chất thủy văn và kết quả phân tích thành phần hóa học nước dưới đất đã làm sáng tỏ sự phân bố mặn - nhạt của nước dưới đất trong các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ vùng cửa sông ven biển (Giao Thủy, Xuân Trường, Trực Ninh và Hải Hậu) tỉnh Nam Định. Trong khuôn khổ bài báo này, các tác giả xin giới thiệu kết quả và khả năng áp dụng phương pháp trường chuyển trong việc xác định hiện trạng nhiễm mặn các tầng chứa nước nói riêng và đới bão hòa nước nói chung. Với 61 điểm đo TEM, bằng cách sử dụng các phần mềm SITEM / SEMDI với mô hình luận giải ba, bốn và năm lớp. Các kết quả phân tích thành phần hóa học của nước dưới đất đóng vai trò là tham số hồi quy và kiểm chứng trong việc xác định ranh giới  mặn - nhạt. Kết quả của nghiên cứu đã xác định tiềm năng  các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ, đặc biệt là phạm vi phân bố mặn nhạt của tầng chứa nước Pleistocen hệ tầng Hà Nội trong vùng  nghiên cứu.


Bài 8.
VẤN ĐỀ MÔ HÌNH HÓA KHỐI ĐÁ PHÂN LỚP, NỨT NẺ VÀ NGHIÊN CỨU TAI BIẾN ĐỊA CHẤT

NGUYỄN QUANG PHÍCH, NGUYỄN VĂN MẠNH,
PHẠM NGỌC ANH, LÊ TUẤN ANH, BÙI VĂN ĐỨC

Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội

Tóm tắt: Thực tế thi công xây dựng công trình ngầm, khai thác mỏ cho thấy sự có mặt của các mặt phân cách (mặt phân lớp, các hệ khe nứt) với sự biến động của chúng là một trong các nguyên nhân gây ra các tai biến địa chất nghiêm trọng (các dạng phá hủy khác nhau, do biến động của điều kiện địa chất). Nghiên cứu lựa chọn phương pháp, công cụ để mô phỏng các khả năng xảy ra tai biến để có thể dự báo, phân tích và phòng ngừa là rất cần thiết. Điều này cũng còn có ý nghĩa  đối với công tác quản lý, giải quyết các thắc mắc giữa chủ đầu tư (thông qua tư vấn giám sát) và đơn vị thi công trong xây dựng công trình ngầm. Bằng phần mềm UDEC và với hai ví dụ minh họa, cho thấy có thể sử dụng UDEC để dự báo, giải thích các hiện tượng, các dạng tai biến xảy ra trong thực tế.


Bài 9. XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU SỐ TRONG THU THẬP, QUẢN LÝ VÀ TRA CỨU CÁC THÔNG TIN ĐỊA CHẤT

PHÍ TRƯỜNG THÀNH1, PHÙNG VĂN PHÁCH1,
 HWANG SANG GI 2, NGUYỄN QUỐC PHI3

1Viện Địa chất và Địa vật lý Biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam,
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội, 2Trường Đại học PaiChai, Hàn Quốc;
 3Trường Đại học Mỏ - Địa chất- Đông Ngạc, Từ Liêm Hà Nội


Tóm tắt: Bài báo này trình bày tóm tắt hệ thống thu thập, lưu trữ, tra cứu và hiển thị các thông tin địa chất từ bản đồ số. Ban đầu, hệ thống thiết lập cơ sở dữ liệu, lưu trữ các loại bản đồ địa chất, địa hình, địa mạo theo lưới chiếu UTM trong Autocad. Các số liệu thu thập ở ngoài thực địa và các kết quả phân tích tại mỗi điểm khảo sát được ghi lại trong cơ sở dữ liệu và được tham chiếu với từng bản đồ chuyên đề thông qua vị trí tọa độ của chúng. Trong trường hợp, vị trí của mỗi điểm khảo sát được xác định bằng thiết bị định vị GPS theo hệ tọa độ địa lý, hệ thống này cho phép chuyển đổi về hệ tọa độ phù hợp với từng loại bản đồ. Việc tra cứu và hiển thị các thông tin địa chất được tiến hành với sự hỗ trợ của các module tích hợp trong Autocad với các tiện ích cho phép dễ dàng cập nhật, lưu trữ, xử lý thông tin với khối lượng lớn, tham chiếu chính xác và cho kết quả nhanh. Hệ thống này đã được thiết kế cho sử dụng máy tính bảng, vì vậy việc phân tích và xử lý dữ liệu có thể được tiến hành ngay tại hiện trường. Để thể hiện nội dung của bài viết, hệ thống ứng dụng được tiến hành tại một bờ dốc, cửa hầm phía tây của tuyến đường cao tốc Kangnam-Sunhwan, thủ đô Seoul, Hàn Quốc.


Bài 10.TIN ĐỊA CHẤT                                                                               

THÔNG TIN ĐỊA CHẤT KHOÁNG SẢN - MỘT NGUỒN LỰC QUAN TRỌNG CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TRẦN HỒNG HẢI
Trung tâm Thông tin Lưu trữ Địa chất, Đống Đa, Hà Nội


Lock full review www.8betting.co.uk 888 Bookmaker

Bản quyền thuộc Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.
Địa chỉ: Số 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Tel: (84-4) 38260674. Fax: (84-4) 38254734. Email: webmaster@dgmv.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Tổng Cục Trưởng Tổng cục Địa Chất và Khoáng Sản Việt Nam.

External links are provided for reference purposes. The World News II is not responsible for the content of external Internet sites.
Template Design © Joomla Templates | GavickPro. All rights reserved.