|
|
|
TIẾN HOÁ ĐỊA CHẤT VIỆT NAM |
|
TIẾN HOÁ ĐỊA CHẤT VIỆT NAM
Đại
Arkei (Thái cổ)
 |
|
Trong lịch sử Trái đất,
Arkei là đại cổ nhất, có mặt cách ngày nay 4500 triệu năm và kéo
dài trong khoảng thời gian 1900 triệu năm (4500-2600 triệu năm trước).
Ở Việt Nam, các thành
tạo Arkei chỉ mới được phát hiện ở phần trung tâm địa
khối Kon Tum, là các đá
biến chất sâu lộ ra ở khu vực Kan Nack, dày tới 3000m, được các
nhà địa chất xếp vào loạt Kan Nack. |
|
|
 |
 |
 |
|
|
|
Đại
Proterozoi (Nguyên sinh)
|
 |
|
Tiếp theo đại Arkei, đại Proterozoi bắt đầu
cách ngày nay 2600 triệu năm và có thời gian kéo dài là 2030 triệu
năm (2600-570 triệu năm trước).
Ở
Việt Nam, các thành tạo Proterozoi thường có mặt ở một số nơi
thuộc các đới nâng Sông Hồng, Phan Si Păng, Sông Chảy, Sông Mã,
Phu Hoạt, Kon Tum, gồm:
-
Các đá kết tinh
Paleoproterozoi mang tên loạt Sông Hồng (ở Đông Bắc Bộ),
loạt Xuân Đài (ở Tây Bắc Bộ) và loạt Ngọc Linh (ở địa
khối Kon Tum).
- Các đá biến chất Mesoproterozoi
được xếp vào loạt Khâm Đức có mặt ở phía nam của Bắc
Trung Bộ.
- Các
đá biến chất Neoproterozoi thường có mặt
trong những mặt cắt chuyển tiếp lên Cambri hạ chứa vi hoá
thạch thực vật (microphyton), thuộc các hệ tầng Sông Chảy (ở
Bắc Bắc Bộ), Sa Pa, Nậm Cô (ở Tây Bắc Bộ), Bù Khạng (ở
Bắc Trung Bộ) và Chư Sê (ở địa khối Kon Tum).
|
| |
|
 |
 |
 |
Hoá
thạch tuổi Cambri
|
Đại Paleozoi (Cổ sinh)
Đại Paleozoi bắt đầu cách ngày nay 570
triệu năm, kéo dài suốt 325 triệu năm (570 đến 208 triệu năm trước).
Đại Cổ sinh chia làm 6 kỷ:
|
|
Các thành tạo Cambri trung- Ordovic hạ phân bố rộng rãi và có sự khác nhau ở các
khu vực. Ở phía bắc Bắc Bộ, Tây Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
chủ yếu là trầm tích carbonat xen lục nguyên tướng biển nông,
biển ven bờ, chứa các hoá thạch Bọ ba thuỳ (Trilobita), Tay cuộn
(Brachiopoda). Ở Bắc và Đông Bắc Bộ chủ yếu là trầm tích
lục nguyên, đôi khi có thấu kính đá vôi, chứa Bọ ba thuỳ (Trilobita).
Các thành tạo Ordovic và Silur ở Việt Nam phát triển chủ yếu ở phần
Bắc lãnh thổ. Chúng thường có quan hệ chặt chẽ với nhau trong
các mặt cắt liên tục.
Biển
Silur
Các thành tạo Devon phân bố khá rộng rãi
ở Bắc và Tây Bắc Bộ, có mặt ở Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ
và lẻ tẻ ở Nam Bộ.
Các thành tạo Carbon và Permi phân bố khá rộng rãi ở Việt Nam, lộ ra
chủ yếu ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, một phần ở rìa Tây và
Tây Nam địa khối Kon Tum và Tây Nam Nam Bộ, Carbon và Permi được
thành tạo ứng với 3 chu kỳ trầm tích: Devon - Carbon sớm, Carbon
sớm - Permi giữa và Permi muộn. |
|
|
Thằn
lằn có cánh cùng với chim
cổ
cuổi Jura
|
Đại Mesozoi (Trung sinh)
Đại Mesozoi (Trung sinh) bắt đầu cách ngày
nay 245 triệu năm và kéo dài 179 triệu năm (245 - 60
triệu năm), gồm 3 kỷ :
- Trias dài 37 triệu năm
(245 - 208 triệu năm trước). |
|
- Jura - 64 triệu năm (208 - 144 triệu năm trước).
- Creta - 78 triệu năm (144 - 60 triệu năm trước).
Lịch
sử phát triển vỏ Trái đất ở Việt Nam trong Mesozoi
trải qua hai giai đoạn lớn: Trias trước Nori và
Nori-Jura-Creta.
Trước Nori, Trias được đặc trưng
chủ yếu bởi các trầm tích biển có xen các trầm tích
nguồn núi lửa. Cuối giai đoạn chế độ biển tiến
ở một số khu vực đã bị chế độ lục địa thay
thế.
Trias (Nori)-Jura-Creta được đặc trưng chủ yếu là các thành
tạo lục địa chứa than và lục địa màu đỏ (ở
miền Bắc) hoặc lục địa có xen các thành tạo biển
trong Jura (ở miền Nam). |
Người tiền
sử ở Nam Phi |
Đại
Kainozoi (Tân sinh)
Đại Kainozoi bắt đầu từ 66 triệu năm trước đây và kéo
dài cho đến nay. Đại Tân sinh gồm 3 kỷ :
- Paleogen dài 42 triệu năm (66 - 24 triệu năm trước).
- Neogen - 22 triệu năm ( 24 – 2 triệu năm trước).
- Đệ tứ bắt đầu từ mốc thời gian 2 triệu năm trước
đây và kéo dài đến tận ngày nay.
Ở Việt Nam các thành tạo Kainozoi rất đa
dạng. |
|
Động
vật có vú Pleixtocen |
Paleogen ít lộ trên mặt. Diện lộ trầm tích
Paleogen hiện mới được biết ở Tây Bắc Bộ (thành
tạo nguồn núi lửa hệ tầng Pu Tra) và cực Tây Bắc
Bộ (trầm tích lục địa hệ tầng Nậm Bay).
Neogen
- Đệ tứ
có mặt ở các khu vực ven biển và thềm lục địa, |
| gồm các trầm tích nguồn gốc khác nhau
chứa vết in lá, bào tử phấn hoa, Trùng lỗ (Foraminifera)
và các lớp đá bazan.
Các thành tạo Đệ tứ ở
Việt Nam phân bố ở các đồng bằng ven biển, vùng núi
và hải đảo.
Ở miền núi, Đệ tứ thường gồm các thành
tạo tướng sông, sông lũ, bazan, thuộc các giai đoạn
Pleistocen và Holocen. Bên cạnh đó là các thành tạo nón
phóng vật cổ, các trầm tích hang động chứa Động
vật có xương sống (Vertebrata) và các hiện vật khảo
cổ.
|
Trang
trước
Ðầu
trang
|
|
| MẪU
VẬT MỚI |
 |
Cúc đá
thuộc kỉ Jura sớm |
|